Hội thánh Giám Lý

CÂU KINH THÁNH GỐC HÀNG NGÀY

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2009

Nguyễn Trường Tộ - Một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam trong thế kỷ XIX

Phạm Huy Thông, Tiến sĩ, Trường Đại học dân lập Đông Đô
Tạp chí Triết học
01:11' PM - Thứ hai, 15/12/2008

Nguyễn Trường Tộ không chỉ là một nhà cải cách nổi trếng, một người Công giáo yêu nước tha thiết, mà còn là một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam trong thế kỷ XIX. Đó cũng chính là những nội dung mà bài viết này đề cập. Mặc dù bị hạn chế bởi thế giới quan duy tâm tôn giáo, nhưng Nguyễn Trường Tộ đã có những tư tưởng triết học độc sắc về nhân sinh, xã hội... so với các nhà tư tưởng Việt Nam cùng thời. Bên cạnh đó, ông còn đưa ra không ít những kiến nghị trong nhiều lĩnh vực, từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội, quốc phòng, ngoại giao...

Đã có nhiều nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ (1830 - 1871) và khẳng định ông là người có tư duy vượt thời đại, đồng thời là một người công giáo yêu nước. Sở dĩ như vậy là vì, có những điều ông viết cách đây đã 50 năm mà đến nay vẫn còn đậm tính thời sự, như chống tham nhũng, buôn lậu, mở cửa đầu tư với nước ngoài, về việc cải cách giáo dục… Ông luôn canh cánh trong lòng suy tư làm sao cho nước thịnh đủ sức đánh đuổi thực dân Pháp, mặc dù triều đình khi đó có chính sách hà khắc với những người theo đạo công giáo như ông. Trong bài viết này, góp phần vào những nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ, chúng tôi đề cập một khía cạnh khác ở ông - khía cạnh một triết gia lớn. Nguyễn Trường Tộ thông minh, học giỏi, nhưng ông không theo đuổi nghiệp quan trường. Có thể, ông biết rõ dù có học giỏi cũng không được dự thi vì ông là người công giáo. Bởi theo chỉ dụ của vua lúc bấy giờ, dân theo đạo không được phép đi thi. Cũng có thể, ông chịu ảnh hưởng tư tưởng coi thường công danh của các thầy dạy ông là Tú Giai, Cống Hữu, nên đã đoạn tuyệt với những "cạm bẫy" của người đời như ông viết trong Bài trần tình rằng, "Từ bé tôi đã thận trọng trong việc giao du, thích yên tĩnh, đối với tất cả những sự cầu danh, lấn lướt, giành công, tham lợi tôi đều coi như mây bay nước chảy. Vả lại, tôi không ham thích kinh doanh, không thích chuyện vợ con, đoạn tuyệt với hai cạm bẫy tài sắc"(l). Ông là một người công giáo đạo hạnh. Đang dạy học, trò theo rất đông, nhưng khi cha xứ yêu cầu ông sang dạy tiếng Việt cho giám mục Ngô Gia Hậu (Gauthier), ông đã xếp lớp lại và đi ngay, không hề tính toán thiệt hơn, dù rằng đi làm việc chung chẳng có công xá gì.

Mặc dù triều đình cấm đạo gắt gao, nhưng ông đã không sợ liên lụy mà còn táo bạo gửi điều trần can gián vua. Lời lẽ điều trần mềm dẻo, nhưng sắc sảo. ông viết: "Xét ra đạo Công giáo vào nước ta từ thời Lê… Lúc bấy giờ giáo dân và những người trong ba đạo (Phật, Lão, Khổng), tuy tín ngưỡng khác nhau nhưng vẫn ân ái tếp đón nhau, lễ nghĩa đối đãi nhau, năng lui tới với nhau không có gì hiềm nghi, đều là con dân của nước nhà mà thôi. Từ khi ban hành lệnh nghiêm cấm thì mới sinh ra ghen ghét kỳ thị nhau, do ghen ghét kỳ thị nhau mới sinh ra tội lệ. Từ đấy giáo dân bị phiền nhiễu đến nỗi phải lưu ly thất sở mà mắc vào vòng hình phạt. Nước vốn trong, có quấy lên mới bị đục, nếu ngừng thì chốc lát sẽ trong trở lại"(2). Theo chúng tôi, với Bàn về tự do tôn giáo, Nguyễn Trường Tộ là người đầu tiên đưa ra khái niệm "đồng hành" tôn giáo trong Triết học Việt Nam. ông đã đưa ra những quan niệm đúng đắn về tôn giáo mà đến nay chúng ta vẫn có thể nhận thấy phần nào trong các văn bản luật liên quan đến tôn giáo nhằm vừa đảm bảo tự do tín ngưỡng tôn giáo, vừa chống lại sự lợi dụng tôn giáo làm những điều sai trái. Ông viết: "Giáo dân cũng do tạo vật sinh dưỡng và đạo giáo cũng do tạo vật bảo dưỡng huống chi giáo dân cũng là một thành phần của nhân dân trong nước? Trong số đó nếu có kẻ bội nghịch chẳng qua cũng chỉ một phần nghìn phần trăm mà thôi... bất kỳ trong đạo giáo nào, hễ ai phản nghịch loạn thường đều là người đắc tội trong tôn giáo, cứ áp dụng hình phạt không tha để cho tôn giáo được trong sạch. Còn ai yên phận tuân theo pháp luật thì để cho họ tự nhiên, có hại gì đâu? Đồng hành mà không nghịch nhau là được"(3).

Nguyễn Trường Tộ luôn có ý thức cao về bổn phận công dân. Nhiều lúc, vấn đề quốc gia, dân tộc được ông đặt lên trên cả các lợi ích tôn giáo thông thường. Chẳng hạn, có những việc, ông đề nghị đừng cho các giám mục, linh mục biết, hoặc tranh thủ cả Vatican để tạo lợi thế cho nước ta. Cũng chính ông đã đưa ra một ý tưởng hoàn toàn mới mẻ là giáo hội Việt Nam phải giao cho người Việt Nam cai quản. Điều này, mãi đến những năm sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 mới được nhắc lại và đến năm 1960 mới thành hiện thực khi Giáo hoàng Gioan XXIII ra sắc chỉ thiết lập hàng giáo phẩm ở nước ta. Ông viết: "… năm trước tôi đã bẩm miệng với quan Thượng thư bộ Binh và bộ Hộ muốn nhân lúc đi Tây mà xin với Giáo hoàng rút giáo sĩ Pháp về, và chỉ giao cho giáo sĩ nước ta trông nom hoàn toàn việc đạo giáo. Tôi nói như thế, không phải là phản đạo, mà chính là để bảo vệ đạo"(4).

Đọc 58 Di thảo của Nguyễn Trường Tộ, chúng ta sẽ phải thật sự kinh ngạc vì sự am hiểu sâu sắc của ông về rất nhiều lĩnh vực, từ khoa học tự nhiên đến công nghệ máy móc, từ khoa học xã hội đến quốc phòng, ngoại giao. Ông xứng đáng được coi là người sáng lập, hay người phác thảo những ý tưởng khai sinh ra rất nhiều ngành khoa học ở nước ta, như nông nghiệp, thiên văn - địa lý, luật học, ngoại giao, thương mại, giáo dục… Ví dụ, với ngành nông nghiệp mà ông gọi là ngành nông chính, sau khi đã xác định tầm quan trọng của công nghiệp với nền kinh tế - xã hội, ông đã đưa ra một loạt kiến nghị, như xuất bản một bộ sách “Nông chính toàn thư” ghi chép tất cả những kinh nghiệm hay trong dân gian cũng như ở các nước khác về trồng cấy, chăn nuôi, chế tạo công cụ; đào tạo quan lại chuyên trách về nông nghiệp đi khắp nước khảo cứu toàn bộ đất đai để xem đất nào trồng cây gì, nuôi vật gì thì thích hợp, nơi nào cần khai hoang, nơi nào cần tưới, tiêu. Ông đề nghị thành lập Bộ Canh nông chăm lo phát triển nông nghiệp, cử người đi học ở nước ngoài, tính lại thuế ruộng cho phù hợp với đất và đặc biệt, phải dạy cho dân biết trồng cấy, chăn nuôi chứ không để phó mặc cho tự nhiên như bấy giờ. Ông đề nghị phải lo trồng rừng để chống lũ lụt và phải giao đất cho dân trồng cấy, chăm sóc để chỗ nào cũng có chủ, không để xảy ra cảnh tự do chặt phá bừa bãi… Đó là những việc mà nền nông nghiệp nước ta vẫn đang trong quá trình thực hiện.

Là người theo Nho học, nhưng ông lại rất muốn học những cái hay, cái tiến bộ của xứ người để về áp dụng trong nước. Ông đề nghị dùng cách học gắn với thực tế, đó là dùng phương pháp đánh giặc bằng cả quân sự, chính trị, ngoại giao với dùng kế hoà hoãn để nuôi lực lượng; liên minh với Anh và Ý để đánh Pháp; mở cửa mời nước ngoài vào làm ăn khai thác và dùng cả mật kế nội gián để đánh Pháp từ trong vùng Pháp chiếm đóng do chính ông vạch kế hoạch và thực hiện. Có một thời gian khi theo giám mục Hậu vào Sài Gòn (từ năm 1859 đến năm 1862), vì có mong muốn được ra nước ngoài học hỏi nhưng bị kẹt lại, ông nhận làm phiên dịch cho Pháp nhưng ông luôn tận dụng mọi thời cơ để theo dõi tình hình địch, làm sai lạc các tài liệu có liên quan đến nghĩa quân hoặc chỉnh lại lời văn trong các văn thư của triều đình nhằm giữ thể diện quốc gia… Một số người cho rằng, việc ông làm cho Tây đã khiến ông rất đau khổ, mặc dù chính ông đã từ chối nhận chức ở Bộ Hộ của Pháp để trở về chấp nhận cảnh nghèo khó. Cho đến tận cuối đời, dù biết bao kiến nghị không được vua quan nhà Nguyễn ngó ngàng tới, nhưng khi bị bệnh nặng, ông vẫn còn gửi nhiều bản điều trần nữa với hy vọng nó sẽ giúp ích cho nước nhà. Điều đó cho thấy lòng yêu nước nồng nàn trong ông.

Song, Nguyễn Trường Tộ không chỉ là một người yêu nước, ông còn là một triết gia lớn của Việt Nam trong thế kỷ XIX. Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, không có nhiều người thể hiện tư tưởng triết học rõ ràng như ông. Cùng thời với C.Mác (1818- 1883) và Ph.Ăngghen (1820-1895), không rõ ông có được tiếp xúc với các tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngghen không, nhưng đọc Di thảo của ông, chúng ta có thể bắt gặp rất nhiều luận điểm triết học tương đồng. Chẳng hạn, ông viết: "… Nếu bị cái nghèo đói thúc bách thì lo kế sống cũng không xong, còn hơi đâu mà bàn lễ nghĩa"(5). Luận điểm này của ông tương đồng với quan niệm duy vật về lịch sử mà C Mác đã chỉ ra - một trong hai phát kiến vĩ đại của C.Mác, như Ph.Ăngghen đã viết: "Mặc đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người: cái sự thật giản đơn... con người trước hết cần phải ăn, uống, chỗ ở và mặc đã rồi mới có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo và v.v. được"(6). Theo chúng tôi, nếu Nguyễn Trường Tộ không đọc Mác mà ông có được luận điểm như trên thì ông thật sự là một triết gia duy vật lớn.

Nguyễn Trường Tộ cũng đã phát hiện ra yêu cầu khách quan của sự sinh tồn trong xã hội. ông viết: "Tôi thiết nghĩ, trong ngũ phúc, phú đứng đầu, triệu dân trước trên lo ăn. Sách Luận ngữ nói: 'Làm cho giàu có rồi mới giáo dục'"(7). Đồng thời, ông nhận ra thế giới là vô cùng phong phú và đa dạng: "Trời đất sinh ra muôn vật không chỉ sinh một khuôn mẫu nào, không thiếu một bên nào, một chức phận nào hay một sinh vật nào mà sinh ra vô số hình thù khác nhau, xu hướng khác nhau để thu phục thống trị chúng, do đó mới thấy được cái phong phú, vĩ đại tinh xảo, kỳ diệu của trời đất". Rõ ràng, thế giới quan của ông là thế giới quan tôn giáo vì ông là người công giáo mộ đạo, nhưng khi nhìn nhận xã hội, xem xét một vấn đề cụ thể, ông lại có cái nhìn biện chứng duy vật. Ông khẳng định rằng, không có sự vật tồn tại một mình, cô lập, chỉ có các sự vật tồn tại trong một liên hệ với các sự vật khác. Trong Tế cấp bát điều, ông viết: "Mọi vật sinh ra trên đời, vật gì cũng có phần thụ hưởng và phần cống hiến của nó. Chưa từng có một vật nào tồn tại một mình không có quan hệ dính dáng vào đâu cả" (8).

Đồng thời, có thể thấy rằng, đức tin của ông không hề cản trở việc ông tiếp thu các tri thức khoa học, cũng như những năm tháng theo Nho học không gò bó được tư duy của ông phải nhất nhất khuôn mẫu theo quan điểm Khổng - Mạnh. Chẳng hạn, lúc đó giáo hội không đồng tình với thuyết nhật tâm của Copernic, nhưng ông lại chứng minh cho nó là đúng đắn với những lập luận hùng hồn trong Bài tựa sách Đàm thiên luận và đưa ra nhận định rất táo bạo và có vẻ ngược đời với trình độ dân trí ở ta lúc bấy giờ khi cho rằng: "ánh sáng cũng là một vật chất trong vũ trụ"(9). Hay là, Nguyễn Trường Tộ đã tiếp thu tư tưởng triết học biện chứng của Lão Tử để vận dụng vào xem xét các hiện tượng xã hội. Ông viết: "Hơn nữa việc đời thường thường chưa có việc gì hoàn toàn lợi mà không có hại, chỉ do con người biết tuỳ cơ ứng biến mà thôi. Trí lực không bao giờ cùng, trong lợi có hại"(10). Song, ông là một người tiếp thu có chọn lọc. Trong khi Lão Tử chủ trương "vô vi" thì Nguyễn Trường Tộ lại cho rằng: "Trên thế gian lẽ nào có chuyện không làm mà tự trên trời rơi xuống cho đâu?"(11)

Ông còn đi xa hơn nữa khi khẳng định thế giới này là có thật chứ không phải tưởng tượng và khả năng nhận thức của con người (cụ thể ở đây là các nhà khoa học) là vô tận. Ông viết: "Phàm nhà khoa học thì phải bụng bao hết những việc xưa nay, mắt trông khắp trời đất, tinh thần chu du tận cõi xa xăm, tâm hồn thấu đến chỗ u huyền. Như vậy mới sáng suốt mà tâm đắc được những gì sách vở không thể truyền hết... mắt trông thấy hiện tượng mà tâm trí bao trùm sự hiểu biết ngoài hiện tượng đó nữa. Bởi vì trời tuy cao, đất tuy xa nhưng đều có sự thực chứ không chìm vào hư vô... Tuy nói là sự thực nhưng nó cao dày thâm thuý vô cùng, thấy như gần nhưng thực là xa, thấy như nhỏ mà thực là lớn, thấy như tĩnh mà thực sự là động, thấy như nghịch mà thực sự là thuận, thấy như không có nguyên tắc mà thực sự là có nguyên tắc, thấy như là trừu tượng mà thực sự là cụ thể"(12). Nói như ngôn ngữ triết học của chúng ta ngày nay thì, Nguyễn Trường Tộ đã nhận ra sự thống nhất của các mặt đối lập. Điều đó cho thấy ông có tư duy biện chứng. Mặc dù không đưa ra khái niệm lượng - chất, nhưng ông đã thấy những mặt đối lập tồn tại trong nhau, cùng nhau và có thể biến đổi cho nhau nếu vượt quá "độ". Trong Bản thảo gửi Tây soái, ông đã phân tích lợi hại khi Pháp chiếm Nam Kỳ như sau: "Cái thay vì để nuôi người giờ trở thành cái làm hại người. Cho dẫu có quyết đánh lấy người ta cho được thì cũng chỉ tạm một thời mà thôi và cái được cũng bù vào cái mất, người bị hại nhưng đâu phải ta chỉ có lợi mà không có hại? Cuối cùng vật gì quá cực độ của nó thì nó sẽ phản ngược trở lại"(13).

Nguyễn Trường Tộ dùng tư duy lôgíc để xem xét, phân tích các mối quan hệ của những sự vật, hiện tượng phức tạp trong xã hội nhằm tìm ra cái cơ sở hưng thịnh của quốc gia, đó là của cải. Song, vấn đề không chỉ là của cải vật chất, vì theo ông, "hiền tài là sinh lực của quốc gia, sinh lực con người ta mà mạnh thì gân cốt trong người đều mạnh". Trong khi, cơ sở để thúc đẩy con người hành động lại là "tài lợi". Có thể nói, đây là một quan niệm duy vật. Ông cũng cho rằng, mặc dù các hiện tượng xã hội muôn hình muôn vẻ, nhưng chúng cũng hoạt động tuân theo những quy luật nhất định mà ông gọi là "lý". Ví dụ, về quy luật gia tăng dân số tự nhiên, ông viết: "Phàm con người sinh ra, nhiều, ít, nên, hư đều theo một trật tự do tạo vật xếp đặt chủ trì. Xem trong một nhà, một làng thấy có đầy, vơi, hư, thực không bằng nhau. Nhưng tính chung trong toàn tỉnh hay cả nước thì thấy cứ một thế kỷ số người lại tăng lên gấp đôi. Đó là lý nhất định"(14).

Về thuật cai trị, ông chủ trương phải dùng luật pháp, đó là: "quan dùng luật để trị, dân theo luật mà giữ gìn". Tuy nhiên, ông cũng không hoàn toàn theo phái Pháp gia thiên về luật để trị nước, nhưng cũng không dựa hẳn vào "đức trị" như Nho gia chủ trương, mà dung hoà mềm dẻo hơn. Ông viết: "Phàm dùng lý chỉ dùng trong việc xử đoán hình phạt, mà khi nào không dùng tình được mới dùng đến lý. Lý là mệnh lệnh gắt gao. Tình là cái đôn hậu hoà dịu... Người trị nước quý hồ ở chỗ thấu suốt tình dân. Có tình thì mới có dân"(15).

Song, quan điểm của ông cũng có chỗ sai lầm, cực đoan như khi ông nhận xét về các chủng tộc người trên trái đất. Ông cho rằng, có giống "có phúc" và có giống "vô phúc". Giống có phúc như các nước phương Tây và nước ta thì mỗi ngày một thịnh, còn "giống vô phước như các dân da đen ở phương Nam, dân Thổ Nhĩ Kỳ, dân Mã Lai,... Cao Miên, Chiêm Thành... ngày một điêu tàn, nay đã đứng lại không phát triển nữa"(16). Đây là một luận điểm duy tâm, cực đoan của ông. Thật ra, những dân tộc thiểu số không phát triển được, đi tới chỗ tiêu vong không phải do họ là giống vô phúc.

Về vai trò của vua quan, ông cũng đã đề cao quá mức đến chỗ rơi vào quan điểm duy tâm khi nhận định rằng: "Người xưa có nói: "Dân là gốc của nước". Nói như vậy cũng chưa đúng. Tôi cho rằng vua quan là gốc của nước. Vì không có vua quan thì chẳng bao lâu dân sẽ loạn, tranh nhau làm trưởng, giành giật lẫn nhau, tàn sát lẫn nhau, oán thù lẫn nhau. Cho nên nước dù có vua bạo ngược còn hơn không vua"(17). Chỗ này Nguyễn Trường Tộ đã nhầm lẫn, bởi vì chính chức năng cai trị xã hội của vua quan cũng do nhân dân giao phó cho họ. Từ lập luận trên, ông cũng phản đối sự thay đổi trật tự xã hội hiện hành mà muốn duy trì lâu dài ngôi vua, "một họ cầm quyền, đời đời truyền nối". Rõ ràng, lòng trung quân của ông đã đưa ông đến những kết luận đi ngược với sự phát triển của xã hội.

Chắc chắn sẽ có ý kiến cho rằng, Nguyễn Trường Tộ là tín đồ công giáo thì làm sao có thể có tư tưởng triết học duy vật, biện chứng được? Rằng, những trích dẫn trên đây chỉ là những lời nói, suy nghĩ không hệ thống, không thể chứng minh cho hệ tư tưởng triết học của ông... Vậy, chẳng lẽ cứ là tín đồ các tôn giáo thì không thể trở thành triết gia duy vật được hay sao? Lịch sử triết học và khoa học đã có biết bao tín đồ tôn giáo vẫn là những nhà triết học duy vật và khoa học nổi tiếng. G.W.Lepnit (1646 -1716) là một ví dụ điển hình. Ông là một người công giáo mộ đạo, nhưng vẫn là nhà toán học, vật lý học và triết học lớn ở Đức và của cả thế giới. Thế giới quan tôn giáo của ông chỉ chi phối khi ông bàn về Thượng đế mà thôi. Bệnh tật đã làm cho Nguyễn Trường Tộ - một con người tài ba mất sớm. Ông mất ngày 22-1871, thọ 41 tuổi. Đây là mất mát lớn với gia đình ông. Sự nhu nhược và hèn kém của triều đình nhà Nguyễn lúc đó đã bỏ qua các bản kiến nghị đầy nhiệt huyết của ông không chỉ là nỗi bất hạnh với ông, mà còn là mất mát với toàn thể dân tộc. Những công trình kiến trúc do ông thiết kế, thi công có thể sẽ mai một theo năm tháng, nhưng tấm lòng kính Chúa, yêu nước của ông thì còn lại mãi với non sông như câu đối trên mộ của ông ở làng Bùi Chu: "Kính Chúa, yêu người hằng tạc dạ. Trung quân, ái quốc vốn ghi lòng".

(l) Trương Bá Cần. Nguyễn Trường Tộ: Con người và di thảo. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 988, tr.20.
(2) Trương Bá Cần. Sđd. , tr. 6.
(3) Trương Bá Cần. Sđd., tr.l8.
(4) Trương Bá Cần. Sđd., tr.325.
(5) Trương Bá Cần. Sđd. , tr. 9 .
(6) C.Mác và Ph.ăng ghen. Toàn tập, t.9. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 995, tr.499-500.
(7) Trương Bá Cần. Nguyễn Trường Tộ: Con người và di thảo. Sđd.. tr.394.
(8) Trương Bá Cần. Sđd. , tr.243.
(9) Trương Bá Cần. Sđd., tr.49.
(l0) Trương Bá Cần Sđd., tr.4-42.
(11) Trương Bá Cần. Sđd., tr.406.
(12) Trương Bá Cần. Sđd., tr.47.
(13) Trương Bá Cần. Sđd., tr.68.
(14) Trương Bá Cần. Sđd., tr.268.
(15) Trương Bá Cần. Sđd., tr.269-270.
(16) Trương Bá Cần. Sđd., tr.268.
(17) Trương Bá Cần. Sđd., tr.74.
Nguồn: Tạp chí Triết học

Đọc thêm!

Nhà chính trị kinh bang tế thế NGUYỄN TRƯỜNG TỘ (1828 – 1871)

Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828 tại làng Bùi Chu, xã Ðoài, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Thân phụ ông Nguyễn Quốc Thư hành nghề Ðông y sĩ, xuất thân gia đình ảnh hưởng Nho giáo, theo đạo Thiên Chúa Giáo. Lên mười tuổi thân phụ dạy học chữ Hán cho đến năm 14 tuổi theo học tiếp tục với thầy tú Giai ở Bùi Ngoã.

Nguyễn Trường Tộ thông minh xuất chúng năm 1855 được Giám mục xứ Ðoài, người Pháp Gauthier, tên Việt nam là Ngô Gia Hậu, mời dạy chữ Hán cho các Giáo sĩ và ngược lại ông học tiếng Pháp và La Tinh, ảnh hưởng Văn hóa Tây- và Ðông Phương học hỏi các tư tưởng mới lạ, uyên bác sống tích cực, hoạt động có trách nhiệm với Quê hương và một lòng vì Ðạo.



Người Việt vốn sống hiền hoà trọng lễ nghiã, trung dung sinh hoạt về tôn giáo Phật, Lão, Khổng vv..dù khác nhau Tôn giáo nhưng đoàn kết, tín ngưỡng đều được tôn trọng. Các Giáo sĩ người Bồ Ðồ Nha (Portugal) vào Việt Nam truyền giáo vào khỏang năm (1522-1533) cho đến năm 1615, giáo sỉ F. Buzoni (1576-1639) người Tây Ban Nha (Spain) đến Hội An truyền đạo. Trong số nầy hai giáo sĩ Fracesco de Pina và giáo sĩ Alexandre de Rohdes (1593-1660) với sự tiếp tay của người Quảng Nam góp phần sáng chế ra chữ Quốc ngữ. Người Việt đều quý trọng.



Nguyễn Trường Tộ tín đồ Thiên Chúa Giáo, trưởng thành trong giai đoạn lịch sử bị thực dân Pháp chiếm các nước Ðông Dương và Việt Nam. Từ đó triều đình vua quan Việt Nam không thích việc truyền Ðạo. Mặc dù có một số giáo sĩ Thiên Chúa giúp vua Gia Long trong thời gian khôi phục lại sơn hà, đóng góp vào sinh hoạt văn hóa Việt Nam. Ðào tạo lớp người mới Paulus Hùynh Tịnh Cuả, Petrus Trương Vĩnh Ký để lại hơn 100 tác phẩm Văn học biên khảo, có công mang hột giống, cây, hoa qủa lạ như : sầu riêng, măng cụt, mãng cầu, lôm chôm từ Pinang Malaisia về trồng tại miền Nam



Ðổi thay qua nhiều triều đại, từ đời vua Minh Mạng (1820-1840) Tự Ðức (1847-1883), Thiệu Trị (1840-1847) nghi ngờ các giáo sĩ thân Pháp đến truyền giáo tại Việt Nam. Thiên Chúa bị gọi là „ tả đạo “ lúc bấy giờ không phải chỉ riêng Vua mà quan lại, sĩ phu ít người hiểu về giáo lý của Ðạo Thiên Chúa giáo, chỉ thấy việc truyền đạo có nhiều điều trái với Nho giáo và phong tục tập quán



Giáo luật của Tòa thánh La Mã lúc bấy giờ còn qúa cứng trong khuôn khổ khó phù hợp với xã hội Việt Nam? Nguồn gốc người Việt lâu đời trong đạo Thờ cúng ông bà Tổ Tiên, mỗi nhà có bàn thờ tượng trưng như một truyền thống văn hóa của Dân tộc Việt Nam, không ai có quyền cấm đoán. Phật giáo, Nho giáo cũng du nhập từ Trung Hoa, Ấn độ hay Nhật bản nhưng luôn tôn trọng tập tục của người Việt



„ Giáo luật Thiên chúa thời đó ngăn cấm tín đồ thờ cúng tổ tiên, ngày kỵ giỗ tưởng nhớ ông bà hay làm tang lễ cho thân nhân, Giáo dân chỉ xin lễ tại nhà thờ, không được làm lễ tại nhà ? Việc thờ cúng tổ tiên là nền tảng truyền thống tinh thần xã hội và triều đình Việt nam. Nên không thể tránh được những mâu thuẫn.“



„ Kể từ đầu thập niên 60, Cộng đồng Vaticanô 2 Giáo hội Thiên chúa giáo La mã (Roma) mới có những thay đổi để phù hợp với văn hoá các nưóc trên thế giới. Riêng tại Việt nam giáo dân có thể thiết lập bàn thờ và tổ chức cúng kỵ ông bà cha mẹ tại nhà.“



Triều đình ban hành các Dụ cấm đạo, việc làm hơi „vơ đũa cả nắm“ trong giai đoạn cần phải đoàn kết Lương-Giáo cùng nhau bảo vệ độc lập, không phải ai theo Ðạo đều tiếp tay cho giặc. Giết Giáo, dân trục xuất giáo sĩ không khác gì đổ dầu thêm vào lửa. Không thống nhất kế hoạch ổn định nhân tâm, đem lại các giai đoạn đen tối nhất trong lịch sử. Nhật Bản áp dụng chính sách bế môn năm 1620 vì lo ngại việc truyền đạo vào nước Nhật, nhưng họ sớm canh tân, mở cửa đón nhận văn minh thế giới, đã trở thành một cường quốc. Triều đình Việt nam bế môn toả cảng không bang giao với Tây Phương, bởi vậy không tránh được sai lầm trong chính sách cai trị, vốn từ lâu chiụ ảnh hưởng Trung Hoa. Nước Việt Nam đã gần 100 năm làm thuộc điạ, kéo dài cuộc chiến khổ đau cho dân tộc..



Quốc gia không được canh tân, chọn người đủ tài đức ra giúp nước, không cải cách sửa đổi sai lầm trong việc cai trị, độc tài độc đảng sẽ đưa đất nước đến bên bờ vực thẳm . Dân chủ là môi trường phát sinh ra những tư tưởng mới, khoa học kỹ thuật phát triển đưa đời sống nhân dân tiến bộ căn bản gồm : dân sinh, dân quyền và dân trí. Các vua thời phong kiến, không tôn trọng ý kiến của Nguyễn Trường Tộ và những người yêu nước khác, để canh tân đất nước. Thế hệ chúng ta sinh sau Nguyễn Trường Tộ hơn một thế kỷ, có thể rút ra được nhựng bài học từ sự kiện lịch sử đó hay không ? Đó là một bài học lịch sử giá trị con cháu chúng ta không thể quên.



Năm 1825 tàu chiến Pháp Theles tới Ðà Nẵng. De Bougainville đem thư vua Pháp xin vào yết kiến, vua Minh Mạng không tiếp, sai đem phẩm vật biếu tặng. Năm 1825, Giáo sĩ Roggerot sang xin giảng đạo, trong lúc vua Minh Mạng cấm đạo (dụ cấm đạo lần thứ 1) Năm 1826, Pháp Hoàng sai Chaigneau sang xin đặt lãnh sự, vua Minh Mạng từ chối



Năm 1833 ra dụ cấm đạo lần thứ 2

Năm 1836 cấm đạo lần thứ 3 từ năm 1834-1838 có 7 Giáo sĩ bị giết

Năm 1838 Vua sai sứ sang Pháp, Hoàng Ðế Louis Philippe không tiếp vì Hội Truyền Giáo quốc tế phản đối những dụ cấm đạo tại Việt Nam.

Năm 1847 đại tá Lapiered sang Việt Nam yêu cầu nhà Vua bỏ lệnh cấm đạo

15-04-1847 chiến tranh bắt đầu, vua Thiệu Trị cho giết giáo dân và giáo sĩ trục xuất người Tây phương.

Tháng 7-1858 Rigault de Genouilly đem liên quân Pháp đánh hạ thành An Hải và Ðiện Hải tại Ðà Nẵng



Năm 1859, Pháp đánh chiếm thành Gia Ðịnh. Vào ngày 01-11-1859, ông Page đến xin vua Tự Ðức ký Hòa ước xin ngoại giao, buôn bán và truyền đạo, nhưng các điều kiện trên đều bị từ chối. Vua Tự Ðức thông minh nhưng nhu nhược, sống đóng khung trong cung, sợ sự chống đối của quan lại, không quyết định được vận mệnh đất nước. Người Pháp lợi dụng việc cấm đạo gây chiến tranh xâm chiếm Việt Nam



Nguyễn Trường Tộ nhờ Ðạo tiến thân, là một công dân Việt Nam tài ba lỗi lạc, nhưng không được triều đình trọng dụng. Khó có cơ hội thăng tiến trong cử nghiệp, có thể lý do ông tham gia khoa thi năm 1848 (canh tý). Năm 1858 ông theo Giám mục Gauthier vào Ðà Nẵng tránh nạn „phân pháp“ đàn áp tôn giáo cấm đạo của Triều đình. Sau đó sang Pháp bằng đường thuỷ, trong thời gian lưu lại Pháp nhìn thấy được văn minh, khoa học kỷ thuật cao .



Ông bỏ nhiều thì giờ đọc sách học hỏi thu thập tinh túy, chọn lọc làm hành trang trở lại quê hương, mong đóng góp được cái hay đẹp, hữu ích xây dựng đất nước. Trên đường trở về ghé Roma tiếp kiến Ðức Giáo Hoàng, sau đó đến Hồng Kông. Về đến Sài Gòn nhiều đổi thay, Gia Ðịnh thành thất thủ tháng 02-1861 bị quân đội Pháp chiếm đóng. Ông được bổ dụng làm thông ngôn tại Sứ phủ Sài Gòn, dịch các văn bản giấy tờ làm gạch nối giữa triều đình và Pháp.



Năm 1961 ông gởi cho triều đình Huế qua đại thần Nguyễn Bá Nghi, văn bản hòa từ đề nghị triều đình nên hoà với Pháp tránh chiến tranh gây khổ đau cho dân tộc



“sự thế hiện nay chỉ có hòa, hòa thì trên có thể thuận ý trời dưới dân, có thể làm cho dân khỏi đau khổ,chấm đứt sự dòm ngó của gian nghịch „



Năm 1862 Ðô đốc Bonard mở rộng cuộc chiến, trước thái độ hung hãn hiếu chiến khát máu. Ông nhìn thấy bất mãn không cộng tác, xin thôi việc tại soái phủ Sài Gòn. Nguyễn Trường Tộ tự khép mình trong bổn phận Ðạo và Ðời, trách nhiệm cao cả người con của Chúa, và người con của dân tộc Việt Nam. Ông phục vụ cho Giáo hội và nghiên cứu viết những điều trần kế tiếp giá trị, để góp ý trong việc xây đựng đất nước, có thể nói Nguyễn Trường Tộ nhà tu, một chính trị gia lỗi lạc. Ông kêu gọi phải chán chỉnh lại học thuật „Học tức học cái chưa biết, biết để mà làm, làm tức là làm những công việc thực tế trong nước và để lãi việc làm hữu dụng đó cho đời sau nữa“. Trước đó Nguyễn Lộ Trạch viết nhiều điều trần, mong đất nước được canh tân, đến ngày nay chúng ta phải ngưỡng mộ, nhưng triều đình bỏ quên trong ngăn tủ nào đó.



Các điều trần dưới xã hội phong kiến, như một ánh sáng lóe lên trong đêm tối của lịch sử, mong muốn triều đình thay đổi cách cai trị, mở rộng ngoại giao, tiếp xúc với Tây phương, bỏ lối học từ chương, ngâm thơ vịnh nguyệt. Nên học hỏi văn minh tiến bộ, gởi du học sinh ra nước ngoài, mong học về khoa học kỹ thuật, hy vọng học xong về nước phát triển về kỷ nghệ, Triều đình luôn giữ chính sách bế môn tỏa cảng. Phan Thanh Giản từng than thở khi đi sứ sang Paris về nói chẳng ai nghe



Từ ngày đi sứ tới Tây-kinh

Thấy việc Âu-châu phải giật mình

Kêu tỉnh đồng-bang mau kíp bước

Hết lời năn-nỉ chẳng ai tin



Nguyễn Trưòng Tộ giống như Phan Thanh Giản viết lên nỗi lòng :



- Khi trong nước cái Ðạo bị diệt, tôi vượt sông lội biển để giữ lấy cái chân lý ở nước người , trước những người quyền quý, tôi luôn nói thận trọng, làm việc nghĩ trước suy sau nhằm giữ thể diện cho nước mình...Tôi tuy là Gíáo, nhưng dòng máu trong tôi vẫn là con Lạc cháu Hồng. Tuy nhà Vua chưa tin tôi, đình thần còn e dè tôi, song ai làm nhục đến các bậc công khanh nước ta, tôi đều biện bác ngay không một chút sợ sệt. (Trang 145 Phan thanh Giản nỗi đau trăm năm) ***



Nguyễn Trường Tộ sinh bất phùng thời, được xem như một thiên tài, kinh bang tế thế, kiến thức vượt qua các quan lại, khoa bảng trong triều đình. Vua trị vì với tính cách cha truyền con nối, nhưng tiếc thay quan lại trong triều không sáng suốt, cương trực để lắng nghe ý kiến đóng góp xây dựng, đem ra bàn cãi, tổ chức phương pháp làm việc. Các quan thích sống ngâm thơ vịnh nguyệt, bảo thủ yên phận, đôi khi tỏ ra ganh ghét đối với Nguyễn Trường Tộ.



Chúa Giêsu từng phán dạy



- nếu các ông mù, thì các ông đã chẳng có tội nhưng vì các ông nói „chúng tôi nhìn thấy được“, nên tội các ông vẫn còn đó. ( Ga 9, 41)



Các Quan lại trong các triều đại Việt Nam không mù, nhưng họ không sáng suốt mở mắt nhìn xa trong việc giúp Vua trị nước, để đưa Dân Tộc Việt Nam khỏi cơn nô lệ !! Nguyễn Trường Tộ viết trong di thảo số 27:



- Phàm kẻ trong thiên hạ là người không phải không có lầm lạc ban đầu, mà là người biết thay đổi hành động, biết sửa điều sai thành đúng đắn, không xấu hổ vì phải sửa đổi cái cũ, mà xấu hổ vì không làm được điều gì mới, không nhìn lui dĩ vãng mà chuyên mưu việc tương lai, không nghĩ đến bảo toàn tên tuổi riêng mình mà lo lợi ích chung cho đất nước, thế mới gọi là trí



Người Pháp muốn ký Hòa ước vì lúc nầy Pháp và Anh đang gặp các chuyện rắc rối bên Trung Hoa nên chính phủ Pháp muốn trì hoãn, để đối phó với Tàu.(1) Phó đề đốc Page tiếp tục việc thương thuyết của Rigault de Genouilly. Nhưng với nội dung không đòi đất, chỉ đòi binh phí, tự do truyền giáo, khai thương ba cửa biển và đặt trú sứ ở Huế (Quân sử tập 3 trang 82) Triều đình có hai phe hòa và chiến. Phe chủ chiến nhiều hơn vì lúc nào cũng tự hào, truyền thống đánh đuổi được ngoại xâm. Nhưng họ quên rằng lối chiến tranh cổ điển, bằng gươm giáo, súng điểu thương, bắn từng phát đạn không còn thích hợp với cuộc chiến tranh mới.



Quân đội Tây Phương được huấn luyện, vũ trang hiện đại với súng đại bác, tàu thủy chạy nhanh trên sông, biển. Nếu so sánh cân bằng, lực lượng quân đội triều đình Việt nam quá lạc hậu và yếu kém. Quân triều đình dù có lòng yêu nước tinh thần chiến đấu cao, không thể đối đầu với đội quân tinh nhuệ của liên quân Tây phương. Ðồn Chí Hòa dưới quyền chỉ huy Kinh Lược Sử Nguyễn Tri Phương, quân số hơn 12.000 quân, không thể chống cự lại với liên quân Pháp, Tây Ban Nha.



Nguyễn Trường Tộ, trong Thiên Hạ Phân Hợp Đại Thế Luận, có cái nhìn xa đối với tình hình thế giới, ông chủ trương nên hoà hơn chiến, lợi dụng kế hòa hoãn để kiện toàn quân đội, canh tân đất nước. Thay đổi chính sách đối ngoại và đối nội, cải cách Văn hoá, Kinh tế, Khoa học, khai mỏ, mở mang dân trí tiến bộ. Khi đất nước Việt nam mạnh phú cường có thể dành lại những gì đã mất.(tùy thời nhi ứng biến) thật là một diệu kế .



- Hàn công nói : biết mà không nói là kẻ bất nhân, nói mà không nói hết là kẻ bất nghiã Thế cho nên tôi ở chốn giang hồ mà lòng gởi lại lăng miếu. Tôi thật không nỡ nhìn thấy nước nhà đổ nát trăm họ lưu ly, cho nên không xét phận hèn mọn mà dám phạm vào lỗi nói ngay thẳng. Nếu cho lời tôi là khi trá hoặc là có ai xuí giục thì xin đem biểu nầy treo ở quốc môn để sau nầy làm chứng. (Ðiều trần thời sự)



Nguyễn Trường Tộ được Vua Tự Ðức mời về Huế tiếp kiến tại nhà Tả Vu, ông đệ trình nhà Vua văn bản khuyên dùng Giám mục, Linh Mục vào việc canh tân đất nước. Vua Tự Ðức đồng ý những điểm trong điều trần của Nguyễn Trường Tộ. Ngày 10-01-1867 cử Nguyễn Trường Tộ cùng Giám mục Gauthier, Lm Nguyễn Ðiều, phó tế Nguyễn Hoàn và Joannes Vị và các Quan triều đình : Nguyễn Tăng Doãn và Trần Hiếu Ðạo đáp tàu L’ orne đến cuối tháng 3 năm ấy đến Paris



Ðến Pháp lần thứ hai có cơ hội đi thăm viếng, tiếp xúc với tính cách ngoại giao. Từ đó ông thấy thêm những việc cần phải làm, đưa đất nước sớm vượt qua cảnh nghèo khổ, lạc hậu và viết điều trần „Tế cấp bát điều“ tập dày giá trị bậc nhất trong các điều trần (tác phẩm ) Nguyễn trường Tộ về văn chương và tư tưởng



1/ Sửa sang võ bị

2/ Hợp tỉnh huyện giảm quan lại

3/ Cải cách tệ lạm để cứu vãn tài chánh

4/ Chỉnh đốn học pháp

5/ Ðiều chỉnh thuế ruộng

6/ Kinh lý bờ cõi

7/ Ðiều tra dân số

8/ Lập Dục anh viện và Tế bần viện



Về nước ngày 29.02.1868 phái bộ đến Huế, tường trình kết quả trong việc ngoại giao Nguyễn trường Tộ và Giám mục Gauthier được ban thưởng nhiều phẩm vật. Trong thời gian trở về quê nhà, giúp xây cất cơ sở nhà Chung xã Ðoài. Tiếp tục viết nhiều điều trần. Triều đình muốn mời Nguyễn Trường Tộ đi với phái đoàn sang Paris xin giảng hòa, thương nghị về 6 tỉnh miền Tây. Bọn thực dân chiếm ngày 24.06.1867, Phan Thanh Giản ngày 04.08.1867 uống thuốc độc tự tử. Ông viết bản điều trần gởi “lục bộ đại thần“ xin bãi bỏ việc cử sứ bộ đi Pháp, ông nêu lý do sau :



-Xưa nay việc giảng hòa đều ở dưới THÀNH (các trận đánh) chứ không ở Kinh Ðô. Ta trong thế yếu, địch chưa gặp khó khăn ... bây giờ chính lúc triều đình nên tính kế lâu dài, dần dần nuôi dưỡng sức dân, chỉnh đốn võ bị, mở rộng giao thiệp..



Nguyễn Trường Tộ viết nhiều đề tài khác nhau về quốc kế, dân sinh.. khoa học, kinh tế, xã hội. Cải cách về chương trình học đưa ra đề nghị các khoản :



1/ Ðặt khoa nông chính

2/ Ðặt khoa thiên văn địa lý

3/ Ðặt khoa cơ xảo

4/ Ðặt khoa luật pháp



Ðề nghị mở khoa nông chính dạy những môn :



1/ Thiên văn nông nghiệp

2/ Ðịa lý học nông nghiệp

3/ Thực vật học

4/ Ðịa văn khí tượng học

5/ Tổ chức nông nghiệp trong nước



Ngoài ra, về Công nghiệp nước Việt Nam “tiền rừng bạc biển”, đó là những nguồn lợi lớn đem lại lợi ích, phú cường cho đất nước, phải khai thác với phương pháp khoa học cần máy móc hiện đại, đó về khai thác mỏ (khoáng lợi); Hải lợi cá muối ; Lâm sản cây gỗ, Thổ lợi gai, tơ lụa.



Ðiều trần của Nguyễn Trường Tộ, được các quan đại thần như Phan Thanh Giản, Trần Tiến Thành, Nguyễn Bá Nghi ghi nhận. Tường trình về triều đình, tiếc thay triều đình không ứng dụng hết vào việc canh tân đất nước. Ông không thể trình bày hết suy tư, lòng yêu nước trong thời gian còn trẻ, (tháng 7 năm 1864, ông bị tai nạn té gãy vùng xương chậu trong khi trông coi xây cất Giáo đường, từ đó bị tật đi khập khiễng), cho đến lúc bệnh thấp khớp không đi được nằm viết trên giường bệnh trước khi từ gĩa cõi đời, mất 22.11.1871 hưởng thọ 43 tuổi. Ông để lại mấy câu thơ bất hủ.



Nhật mộ tuy vô hồi chiểu xứ

Qui hoa tự hữu hướng dương thần



Tạm dịch



Vừng nhật dù không quay dọi lại

Lòng quỳ vẫn cứ hướng mà theo



Nguyễn trường Tộ ra người thiên cổ trong nước Chúa, nhưng Lịch sử không quên Nguyễn Trường Tộ đã góp công trong việc xây dựng Quê hương, được ca tụng qua những bài thơ sau: (2)



Non sông thiêng sáng đúc nên tài

Những ước ra tâm gíup giống nòi

Lấy đạo nghiã xưa làm mực thước

Ðem khoa học mới để trao đời

Bao phen xuất ngoại lòng nuôi mộng

Mấy độ trần tình lệ nhỏ rơi.

Hôn ám kể chi phường sống tạm

Nghìn thu luống để tiếc thương ai

Á Nam Trần Tuấn Khải



Nhà cách mạng Huỳnh Thúc Kháng dành cho Nguyễn Trường Tộ một chổ đứng trong văn học Việt Nam



Vô đoạn vật sắc đáo trần ai

Mãn phúc kinh luân bát điệu tài

Tiền nghịch ngẩu thừa tuyên thất triệu

Hận nhan trường kỉ sính đo ai

Di văn thương hải châu do tại

Kì khí phong thành kiếm vĩnh mai

Thông uất giang sơn kim thị tạc

Tao hồn ứng phục quốc hồn lai



Bản dịch



Bỗng dưng vật sắc đến trần ai

Ðầy bụng kinh luân tám đẩu tài

Tiệc trước tình cờ vua triệu đến

Người sau nhớ mãi chuyện bi ai

Biển xanh ghi lại châu còn đó

Vuì kiếm phong thành có một ai?

Nghẹn uất non sông ngay chính đó

Li tao xua đuối quốc hồn lai



Nguyễn Trường Tộ là một người Việt Nam ưu tú của dân tộc, cống hiến cho Tổ Quốc Việt Nam. Ông đã phục vụ Quê hương, Dân tộc và Phụng Sự Thiên Chúa. Đó là tấm lòng yêu nước vô tư không vụ lợi, không oán trách hận thù. Thương tiếc ông mất sớm, ước mơ của ông không thực hiện được dưới thời quân chủ chuyên chế. Nhưng Nguyễn Trường Tộ thể hiện tinh thẩn của một kẻ sĩ yêu nước, trọn vẹn cho đến hơi thở cuối cùng. Thật là một tấm gương trong sáng, mọi người phải tôn kính và noi gương.





Nguyễn Quý Ðại





1/ chiến cuộc giữa Tây và Tàu chấm dứt hiệp ước Bắc kinh được ký vào ngày 25-10-1890. Ðề đốc Charner, người chỉ huy mặt trận Hòang hải của Pháp, được giữ chức Tổng tư lệnh quân đội Pháp, rảnh tay ở Tàu quyết định đánh chiếm Việt Nam

2/ Tự đìển danh nhân Việt Nam



*** theo tác giả Thanh Ðạm NxB Văn Nghệ viết „ vào khoảng năm 1868, Nguyễn trường Tộ trở về Xã Ðoài giúp xây nhà chung và trong thời gian nầy cưới người yêu Vũ Thị Cam quê Xuân Mỹ , cưới vợ có một người con tên là Nguyễn Trường Cửu „ sđd trang 274


Đọc thêm!

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2009

Tiếng Việt huyền diệu - Chúa Giêsu biết nói Tiếng Việt

BS Nguyễn Xuân Quang
www.vietnamreview.com
20-12-2007

Tôi khám phá ra câu nói cuối cùng của Chúa Jesus khi bị đóng đinh trên thánh giá là tiếng Việt! Chuyện khó tin nhưng không phải là không có thật. Trong Sách Tân Ước (The Books of the New Testament) có ghi lại câu nói cuối cùng của chúa Jesus khi bị đóng đinh trên thánh giá như sau: "Eli, Eli, lama sabac tha ni".

Không một ai hiểu Chúa nói gì. Không một ai biết Chúa có ẩn ý gì. Vì câu nói này không phải là tiếng Do Thái hay bất cứ một thứ tiếng Tiểu Á nào đang nói vào thời Chúa Jesus sống. Chúa đã dùng một thứ ngoại ngữ. Tại sao Chúa đã nói bằng tiếng ngoại ngữ? Bởi vì Chúa không muốn những kẻ đóng đinh Chúa hiểu những gì Chúa nói. Cũng chính bởi Chúa nói bằng tiếng ngoại ngữ nên các kẻ đóng đinh Chúa vì không hiểu câu nói cuối cùng của Chúa, họ đã rất tò mò nên đã ghi lại lời Chúa nói và vì thế câu nói cuối cùng này của Chúa sau này đã được ghi lại trong Tân Ước.


Gần hai ngàn năm không một ai hiểu lời nói cuối cùng của Chúa. Cho mãi tới khoảng thập niên ba mươi, James Churchward, một nhà khảo cổ rất nổi tiếng mới hiểu được ý nghĩa của câu nói cuối cùng của Chúa. Trong cuốn The Symbols of Mu, ông cho đây là tiếng nói của vùng Đông Á châu mà ông gọi là Naga-Maya, một tiếng nói thuần túy của vùng Đất Mẹ "Mother Mu". Theo ông, tiếng Naga-Maya-Đông Á châu là một ngôn ngữ cổ nhất của loài người. Cũng theo ông câu nói này đã được phát âm và đánh vần sai trong Tân Ước. Thật ra phải đánh vần, đọc và phát âm như sau: " Hele, hele, lamat zabac ta ni". Ông dịch qua Anh ngữ: "Hele- I faint (Ta xỉu)- Hele-I faint (Ta ngất); lamat zabac ta ni - darkness is coming over my face" (bóng tối đang phủ xuống mặt ta) (It is the pure tongue of the Motherland, badly pronounced and spelt in New Testament. It should have been spelt, read and pronounced: "Hele, hele, lamat zabac ta ni" Translation: Hele-I faint. Hele-I faint; lamat zabac ta ni-: darkness is coming over my face", p. 54).

James Churchward gọi vùng đất Mu là Motherland, một vùng đất ở biển Đông ngày xa xưa còn có các cầu đất nối liền với Đông Nam Á, thuộc địa bàn của văn hóa Hòa Bình trong đó có cổ Việt.

Ngày nay vùng đất Mẹ "Mu" này đã chìm xuống biển. Cũng theo James Churchward, vùng đất Mẹ Mu này có một nền văn minh rất huy hoàng và là nguồn gốc của văn minh loài người. Cũng nên biết là gần đây (1998) một bác sĩ Nhi Khoa tên là Stephen Oppenheimer, trong quyển Địa Đàng ở Phương Đông hay Lục Địa đã Chìm Đắm ở Đông Nam Á (The Eden in the East, The Drowned Continent in Southeast Asia) cũng chứng minh rằng ở vùng biển Đông Nam Á trước đây có một lục địa gọi là Sundaland về sau bị nước biển dâng lên nhận chìm xuống. Stephen Oppenheimer cũng cho rằng Sundaland có một nền văn minh rất huy hoàng. Đất Mẹ Mu của James Churchward chính là Sundaland của Stephen Oppenheimer.



Giống ngưới homo sapiens-sapiens di chuyển từ Đông Phi Châu theo sự nghiên cứu DNA (The migration of homo sapiens-sapiens from East of Africa based on DNA study, The Cambridge Encyclopedia of Human Evolution).
James Churward cũng cho biết ông không phải là người duy nhất đã tìm cách dịch câu nói cuối cùng của chúa Jesus khi bị đóng đinh trên thánh giá mà Don Antonio Batres Jaurequi, một học giả uyên bác về Maya của Guatemala, trong quyển "History of Central America", đã viết "Những từ cuối cùng của Chúa Jesus trên Thánh giá là tiếng Maya, một thứ ngôn ngữ cổ nhất hiện biết đến. Lời chúa nói phải đọc như sau: "Hele, Hele, lamah sabac ta ni". Dịch sang Anh ngữ "Bây giờ Ta đang ngất xỉu; bóng tối bao phủ mặt ta" ("The last words of Jesus on the Cross were in Maya, the oldest known language". He says they should read "Hele, Hele, lamah sabac ta ni". Put in English: "Now I am fainting; the darkness covers my face"). James Churward cho rằng ông phát âm lamat và zabac còn Jaurequi phát âm lamah và sabac là do ông dựa theo ngôn ngữ Naga-Maya ở Đông Á châu, còn Jaurequi dựa vào ngôn ngữ Maya hiện nay ở Trung Mỹ. Hai dòng ngôn ngữ lấy từ hai vùng cách xa nghìn trùng của quả đất nhưng đồng thuận với nhau về mọi điểm trọng yếu (Jaurequi spells the word "lamah". I spell it "lamat". He spells the word "sabac". I spell it "zabac". This difference is brought about by the translation coming from two different lines of colonization. Mine comes from the Naga-Maya of Eastern Asia; Jaurequi's comes from the Modern Maya of the Central America. The two, taken from vastly distant parts of the earth, agree in all material points', p. 54-55). Nói một cách khác chúng là hai ngôn ngữ chị em của cùng một ngôn ngữ Motherland, của cùng một ngôn ngữ nhưng nói theo hai phương âm khác nhau như ngôn ngữ Việt Nam nói ở miền Bắc và ở miền Trung-Nam .

Bây giờ, tôi là người thứ ba xin chuyển câu nói cuối cùng này của Chúa Jesus qua tiếng Việt. Tôi sẽ chứng minh câu nói này là tiếng Việt, một trăm phần trăm tiếng Việt.

-Eli, Hele

Eli, hele là những tán thán từ (exclamation) . Eli là một cổ ngữ Anh liên hệ với từ Anh ngữ hiện kim Alas và biến âm với tiếng Việt hiện kim Ế a, Ối a và Hele là cổ ngữ Anh liên hệ với Pháp ngữ hiện kim Hélas và liên hệ với cổ ngữ Việt Hĩ ôi! (Alexandre de Rhodes, Từ Điển Việt Bồ La) và với tiếng Việt hiện kim Hỡi a!, Hỡi ơi!, Hỡi ôi!

-lama, lamat, lamah
.Nếu coi từ lama hay lamah là hai từ riêng rẽ: la và ma (mah)

./ la biến âm với lù (lù mù), lờ (lờ mờ), với lòa (mù lòa, chói lòa), lóa (lóa mắt, chói lóa). Lòa, lóa, chóa là đui mù, làm tối mắt, không nhìn thấy liên hệ với Pháp ngữ noir (/noa/), đen, tối. La cũng biến âm với làn. Từ làn là lớp che như một làn sương khói, một làn khói bốc lên (la, làn liện hệ với Anh ngữ "layer"). Theo l=m như lờ = mờ, lu, lù = mù, mờ; lạch = mạch (nước), ta có làn = màn, một làn sương mù = một màn sương mù .

./ ma là mà, mù, mờ, mây như mù mà mù mờ, làm cho không thấy, che mắt như ta thường nghe nói các nhà ảo thuật mà con mắt người xem (ma tương đương với một nghĩa của ma thuật, liên hệ với magic).

Lama là lờ mờ, lù mù, lóa mất , làn mây mù, lớp mây mù.

.Nếu coi lama chỉ là một từ

Lama có lam- biến âm với lấm (bẩn), lầm (vẩn đục như lầm than, cát vẩn bụi lầm), lem (lem luốc, lem nhem, lâ1m lem). Lấm, lầm, lem ngoài nghĩa bẩn còn hàm nghĩa đen đủi, rõ nhất là từ lem như thấy qua từ đôi lọ lem. Ta có lem = lọ (lọ, nhọ có nghĩa là đen như lọ nồi, nhọ nồi). Theo l=đ, lam- = đậm = đêm (tối), theo l=th, lam- = thâm. Đậm, đêm và thâm cũng hàm nghĩa đen như đậm đen, đêm đen, thâm đen (chiếc áo the thâm). Vậy lam- liên hệ với Việt ngữ lấm, lầm, lem, đậm, đêm, thâm hàm nghĩa đen, tối.

Mặt khác lam- liên hệ với Hán Việt lam là khí núi như lam chướng, sơn lam chướng khí. Khí núi là một thứ mù sương, sương mù, sương mờ trông như mây mù, khói mù . Thường cho lam chướng là một thứ khí độc (miasma).

Như thế lama là tối đen (darknes hay làn mây mù, lờ mờ, lù mù .

Như đã biết Việt ngữ liên hệ với tiếng Nam Đảo (Austronesian language). Ta có

thể dùng tiếng Nam Đảo để kiểm chứng lại nghĩa ngữ của từ lama để thuyết phục thêm những người có đầu óc đa nghi. Tôi mò tìm trong ngôn ngữ Nam Đảo và đã tìm thấy trong Ngôn ngữ Nam Dương tộc Torah có từ lama có nghĩa là dew (sương), mist (mù) (Tae, Zuid Toradjasch WMP; van der Veen 1940) và ngôn ngữ ở đảo Salomon có từ lama có nghĩa là spread over, cover over (lan tỏa, che phủ)

(OC, Sa'a, S.E. Salomon, W.G, Ivens, 1929) (Robert Blust, Austronesian Etymologies, Oceanic Languistics, Vol. XIX, No 1 and 2, 1980. tr. 101).

Mã Lai ngữ kelam là dark (tối, đen, đậm, thâm), obscure (tối tăm, mờ mịt), malam là night (đêm), the darkness of night (tối đêm, đêm đen) và silam là darkness, nightfall ("màn" đêm rơi xuống). Tất cả đều có gốc -lam liên hệ với Việt ngữ lấm, lầm, lem, đậm, đêm, thâm nói ở trên.

Tóm lại rõ như hai năm là mười là lama là làn mây mù, lớp lam mù, l ù mù, lờ mờ, lóa mắt, bóng tối, tối tăm và từ lama viết trong Tân Ước gần cận với ngôn ngữ Nam Á và Nam Đảo hơn là hai từ của hai tác giả trên là lamat, lamah.

-sabac, zabac

Theo sự biến âm lịch sử trong Việt ngữ, âm b là âm cổ ví dụ các cụ chúng ta nói bồ hôi = chúng ta ngày nay thích nói mồ hôi, các cụ nói bồ hóng = chúng ta nói mồ hóng, các cụ nói thuốc bồi = chúng ta nói thuốc mồi... như thế ta có sabac là dạng cổ của Việt ngữ samac. Khoảng hai ngàn năm trước, Chúa nói sabac, chúng ta ngày nay nói samac.

.Nếu coi samac là hai từ riêng rẽ là sa và mac

-sa, sà là rơi xuống, đổ xuống như sa xuống, sà xuống.
-mac là mặt (cũng nên biết là người Trung Nam ngày nay cũng thường phát âm c thay cho t, viết chính tả hay lầm c với t).

Samac là sa, sà xuống mặt.

.Nếu coi samac chỉ là một từ

Samac có sam- là sâm, sẩm, xẩm, sầm hàm nghĩa tối, đen như sâm sẩm tối, lúc xẩm tối, tối sầm lại. Sâm, xâm, xẩm cũng có nghĩa là bị tối mắt lại tức bị xỉu, ngất như bị xây xẩm cả mặt mày, bị xâm (faint). Xẩm là mù, không thấy như thấy qua từ hát xẩm.
Như thế, samac có thể hiểu là tối đen đổ xuống mặt, bị xỉu, ngất. Vắn tắt sabac là samac là sa, sà (xuống), sa sầm (bóng tối đổ xuống) xuống mặt, mắt, bị sâm, xây xẩm.

-ta ni

Ta ni chính là Việt ngữ ta ni, ta nì, ta này, ta nầy, ta nè. Ta ni trăm phần trăm là tiếng Việt, một ngàn phần trăm là tiếng Việt, một triệu phần trăm là tiếng Việt. Ta ni là tiếng Việt đứt đuôi con nòng nọc. Khoảng hai ngàn năm hai từ ta ni không thay đổi trong tiếng Việt. Khoảng hai ngàn năm trước Chúa nói ta ni và ngày nay chúng ta cũng vẫn nói là ta ni.

Tóm lại, toàn câu nói "Hele, hele, lama sabac ta ni" = "Hỡi ơi! Hỡi ôi! làn mây mù sà xuống mặt ta nì" hay "Hỡi ơi! Hỡi ôi! làn mây mù sà xuống tối mặt ta nì" hay dịch thoát nghĩa là "Hỡi ơi! Hỡi ôi! ta đang bị xây xẩm, màn bóng tối che mặt ta nì". Tổng quát, nghĩa của câu tiếng Việt rất ăn khớp với nghĩa của James Churchward và Don Antonio Batres Jaurequi đã dịch: "I am fainting, the darkness covers my face". Nhưng tất cả mọi người phải công nhận với tôi là câu tiếng Việt chính thống và đúng nghĩa nhất.

Theo Việt ngữ hiện kim thì câu nói cuối cùng của Chúa Jesus trên thánh giá phải viết như sau " Hoioi, hoioi, lanmay samat ta ni".

Như thế rõ ràng Chúa Jesus đã nói tiếng Việt! Bây giờ, một câu hỏi lớn được đặt ra là Chúa đã học thứ ngoại ngữ này ở đâu?

Giáo sử của Thiên chúa giáo có ghi lại rằng Chúa Jesus đã "vắng bóng" một khoảng thời gian mà các tín đồ không rõ ngài đi đâu. Một tài liệu gần đây nói rằng Chúa đã viếng thăm vùng phía bắc Ấn Độ. James Churchward cũng xác nhận điểm này. Ông là một nhà khảo cổ học uyên bác đã từng lặn lội đến những vùng đất có những nền văn minh huy hoàng cổ nhất của nhân loại để nghiên cứu. Ông đã từng đến những vùng bắc Ấn, Hy Mã Lạp Sơn, Tây Tạng... để tìm tòi nghiên cứu về nguồn gốc văn minh loài người. Trong quyển Symbols of Mu ông đã viết:

"Một dịp, một lão tu Ấn Độ Rishi bảo cho tôi biết rằng truyền thuyết của ngôi đền có ghi rằng ‘Chúa Jesus, trong khi lưu lại ở một tu viện ở Himalaya, ngài đã nghiên cứu thứ tiếng thiêng liêng Sacred Inspired Writings, ngôn ngữ, chữ viết và và Vũ Trụ luận của vùng Đất Mẹ". Đây là lý do James Churchward đã cho rằng câu nói cuối cùng của Chúa là thứ ngôn ngữ của vùng Đất Mẹ.

Như thế Chúa đã nói một thứ ngôn ngữ cổ vùng Đông Á mà địa bàn của cổ Việt là ở vùng Đông Á liên hệ với vùng Hy Mã Lạp Sơn thì hiển nhiên Chúa nói tiếng cổ Việt.

Tôi xin chứng minh có sự liên hệ giữa tiếng Việt và tiếng Naga-Maya Đông Á của James Churchward. Ở đây chỉ xin so sánh tiếng Việt với vài ba từ Naga-Maya Đông Á trong nhóm tự vựng của James Churchward.

-Ngôn ngữ Naga-Maya Đông Á có từ naga là rắn nước (nag- là nác, nước), một thứ rồng nước. Theo truyền thuyết chúng ta là dòng dõi Lạc Long Quân. Lạc Long là Rồng Nác, Rồng Nước là Naga, như thế dân Lạc Việt có gốc rồng nước liên hệ với Naga-Maya Đông Á châu của J. Churchward. Lạc Long Việt và Naga-Maya Đông Á cùng một dòng Naga-Rồng Rắn Nước, dòng nước, Mặt trời nước, dòng vũ trụ nòng (âm). Tiếng cổ Việt là tiếng Naga-Maya Đông Á hay liên hệ vời tiếng này.

-Từ Naga-Maya Đông Á châu keh có nghĩa là con hươu, người đầu tiên trên mặt đất (Keh ruột thịt với Pháp ngữ cerf là con hươu; với gốc Hy lạp ker-, sừng như keratitis, sưng màng sừng ở mắt). Keh chính là Việt ngữ kẻ (người như kẻ nào đó? vùng, đất cao, núi nổng. Kẻ nguyên thủy chỉ người tộc Hươu, người ở vùng đất cao, tộc núi như Kẻ Sặt, Kẻ Mau, Kẻ Trọng), ruột thịt với Hán Việt Kì là cây, sừng, vùng đất, con hươu nọc. Vua đầu tiên của chúng ta là Kì Dương Vương có Kì là Kẻ ruột thịt với Naga-Maya kek, con hươu, người đầu tiên. Kì Dương Vương là người đầu tiên của tộc Việt và của cả loài người đã lập ra nước đầu tiên của tộc Việt là Xích Quỉ cũng có tên mẹ đẻ là con hươu đực Lộc Tục (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

-Từ Naga-Maya Đông Á châu Mu là Me ruột thịt với Việt ngữ Mụ, Mẹ, Mệ, Mợ...
-Từ Maya Đông Á Menen (người) chính là Việt ngữ Man, Mán, Mường, Môn (người),

Như thế chỉ qua vài ba từ, ta thấy ngôn ngữ, truyền thuyết, cổ sử của Việt Nam liên hệ khắng khít ruột thịt với Naga-Maya ngữ.

Vậy Chúa nói tiếng Naga-Maya Đông Á thì Chúa cũng có thể nói tiếng Việt.

Như trên ta đã biết tiếng Naga-Maya Đông Á và tiếng Maya Trung Mỹ là hai ngôn ngữ chị em. Vậy tiếng Naga-Maya Đông Á liên hệ với Việt ngữ thì Việt ngữ cũng phải liên hệ với tiếng Maya Trung Mỹ. Tôi xin chứng minh. Có ít nhâ hai tác giả Việt Nam cho rằng có sự liên hệ giữa Việt Nam và Maya Trung Mỹ:

-Bình Nguyên Lộc trong "Nguồn Gốc Mã Lai của Dân Tộc Việt Nam" cho rằng Maya ngữ Trung Mỹ châu là tiếng Mã Lai đợt II. Có nhiều tác giả trong đó có Bình Nguyên Lộc đã chứng minh rằng có sự liên hệ giữa Việt ngữ và tiếng Mã Lai nằm trong nhóm ngôn ngữ Nam Đảo. Vậy thì tiếng Việt liên hệ với tiếng Maya Trung Mỹ.

-Triết gia Kim Định trong Việt Lý Tố Nguyên cho rằng Maya liên hệ với Bộc Việt. Bộc là Bọc là túi, nang. Bộc Việt là Nòng Việt, dòng âm, ngoại, dòng Vũ trụ, Hư Không âm.
-Tôi cũng nhận thấy giữa Maya và Việt Nam có một sự liên hệ mật thiết về văn hóa, cổ sử và ngôn ngữ. Họ là tộc thờ mặt trời thuộc dòng Nòng (tức Bọc, Bộc), dòng Vũ trụ Hư Không âm, dòng nước, dòng Mẹ Mặt trời. Hãy lấy một vài ví dụ để soi sáng.
-Từ Maya

Trước hết hãy tìm hiểu xem Maya nghĩa là gì? Theo các nhà nghiên cứu Maya Tây phương ngày nay, Maya có nghĩa là 'not many': "The name Mayapán, given to Maya New Empire which endured from A.D. 987 to 1697 means the 'Standard of the Not Many', from Maya (not many) and pán (standard). It was sometimes called Ichpa meanning 'within the closure', an exactly parallel idea on the Nahuaque as Lord of the Ring" (Irene Nicholson, Mexican and Central American Mythology, tr.123) (Tên Mayapán, đặt cho Tân Đế Quốc Maya kéo dài từ 987 đến 1697 sau công nguyên có nghĩa là "Tiêu chuẩn Không nhiều", do Maya là 'Không nhiều' và pán 'tiêu chuẩn'. Đôi khi cũng được gọi là Ichpa có nghĩa là "trong vòng kín", chính là ý nghĩa song song với Nahuaque, "Chúa Vòng"). Câu cắt nghĩa này thật là tối nghĩa và gần như là ngớ ngẩn. Đây là cách giải nghĩa đã đi lệch ra ngoài. Bây giờ ta thử dùng Việt ngữ và chữ nòng nọc để tìm nghĩa đích thực của tên tộc Maya xem sao. Đối chiếu với Việt ngữ ta thấy Maya (không nhiều) quả thật có nghĩa là Mấy (mấy cũng có nghĩa là không nhiều như sức mấy, mấy hơi, mấy kẻ... Mấy liên hệ với mỡ, mậu, mụ, mô có nghĩa là không có gì, xem dưới). Do đó Maya chính là Mấy, Không. Pán chính là Việt ngữ bản, buôn, mường chỉ người, chỗ ở, đất nước. Bản về sau cũng có nghĩa là căn bản, đơn vị gốc dùng làm tiêu chuẩn, các nhà nghiên cứu Maya hiện nay đã hiểu theo nghĩa standard là tiêu chuẩn này. Mayapán là Bản Mấy, Bản Không, Mường Mấy, Mường Không. Không có nghĩa là hư không, là Khôn, Nòng. Vì thế mà từ Mayapán có nghĩa đi đôi với Ichpa có nghĩa là "within the closure", là "quây kín", "Ring", "Vòng". "Lord of the Ring" là "Chúa Vòng". Ở đây ta phải hiểu theo chữ nòng nọc, theo vũ trụ giáo. Theo v=n, víu = níu, Vòng = Nòng. Vòng là Nòng, là Khôn tức ngành âm. Rõ như ban ngày là Maya là Mấy, Không mang ý nghĩa Vòng, Nòng, Khôn, Hư Không. Maya là một tộc thuộc ngành Nòng, Khôn âm, Nước trong vũ trụ taẹo sinh. Vì thế hình hai vòng tròn đồng tâm mang ý nghĩa hai nòng O là hai âm, thái âm, nước là biểu tượng chính của Maya như thấy ở các hình rắn cuộn tròn (rắn mang một ý nghĩa biểu tượng cho nước) và thấy rất nhiều ở các kiến trúc.

Kiến trúc hình hai vòng tròn đồng tâm và con Rắn-Lông Chim Kuckucan cuộn tròn thành hình hai vòng tròn đồng tâm ở sân chơi "bóng người" (Chichén Itzá, Cancun, Mexico, 2006).

Điều này cũng thấy rất rõ là nét nổi bật nhất của Maya là mặt trời của Maya là mặt trời âm và có cả mặt trời cõi âm và có biểu tượng là con báo (báo thuộc họ mèo biểu tượng cho dòng âm, nữ).

Theo duy dương Maya là một thứ Lạc Việt, theo duy âm là một thứ Âu Việt thuộc ngành nòng ở Mỹ châu (nên nhớ Thổ Dân Mỹ châu xuất phát từ vùng duyên hải Nam Á, xem dưới).

- Trong Maya ngữ, Maya ngữ có Ma- có nghĩa là Mẹ, chính là Việt ngữ Má, Mạ, Me, Mẹ, Mợ, Mụ. Nếu Ma đứng đầu từ tức là tiền tố thì Ma- có khi mang nghĩa phủ định (negation) có nghĩa là không, không có, chớ có (James Churchward, Land of Mu). Điểm này cũng giống như trong Việt ngữ có các cổ ngữ mựa, mỡ có nghĩa phủ định như thấy trong thơ Lê Thánh Tôn, thế kỷ 15:

Mỡ ểu áo vàng chẳng có việc.

Mỡ ểu có nghĩa là chớ có kêu ca (giải thích của Bùi Đức Tịnh, Văn Phạm Việt Nam, Xuân Thu, tr.237), mỡ là không; tiếng Huế mô (mô có = không có), Quảng Đông ngữ mụ, mậu (không), ểu biến âm với e (sợ), eo (sèo), mỡ ểu là chớ có e sợ, chớ có eo sèo.

.Maya có vật tổ là Kucucan là Rắn Lông Chim có Kucu- là chim cúc-cu (tú hú, biểu tượng cho gió), -can là chăn, trăn, rắn. Kucucan là Rắn-Chim, Rắn-Lông Chim, Rắn Gió (Thần Gió) tức là Rắn bay được tức là một loại naga, long, thuồng luồng, rồng. Hiển nhiên qua vật tổ này ta thấy rất rõ Maya Trung Mỹ cũng thuộc dòng âm Naga. Họ là Naga-Maya ổ Trung Mỹ. James Churchward đã chứng minh đúng.

.Maya ngữ ou (ếch) biến âm với oa, ếch.

.Ở trên ta đã biết Maya có nghĩa là Không, Vòng Kín, Chúa Vòng thuộc dòng Khôn âm nên họ có con số zero có hình con sò có hai răng mang hình ảnh Nữ Oa là "con ốc có hai ngà" (Kim Định, Việt Lý Tố Nguyên). Theo truyền thuyết Nữ Oa có đuôi rắn là dòng nước, Nòng Khôn âmlà người đăn bà đầu tiên của nhân loại. Maya Trung Mỹ thuộc dòng Nòng, Không, Khôn âm đã lấy hình ảnh con ốc có hai ngà của Nữ Oa làm con số không zero. Như thế họ ruột thịt với Nữ Oa (điều này cũng cho thấy Nữ Oa không phải là của Trung Hoa, xem Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).
. . . . . .
Cuối cùng một bằng chứng vững chắc và đáng tin cậy nhất là nghiên cứu di truyền học dựa trên DNA. Sự khảo cứu dựa trên DNA của Tiến sĩ J.Y. Chu chứng minh rằng con người Homo sapiens sapiens phát xuất từ đông châu Phi tới vùng Lưỡng Hà rồi đến Đông Nam Á. Ở đây, họ chia ra làm hai nhánh. Một nhánh đi lên phía Bắc tức Trung Hoa rồi vượt qua eo biển Bering qua Mỹ châu. Nhánh thứ hai đi xuống Nam Đảo ở Thái Bình Dương.

Khảo cứu này cung cấp một bằng chứng kiên cố là thổ dân Mỹ châu nói chung và Maya Trung Mỹ nói riêng phát gốc từ Đông Nam Á. Hiển nhiên Maya Trung Mỹ liên hệ với cổ Việt.

Như thế câu nói cuối cùng của chúa Jesus theo James Churward là tiếng Naga-Maya Đông Á châu và ta đã thấy rõ có liên hệ với tiếng cổ Việt. Theo James Churward tiếng Naga-Maya Đông Á châu và tiếng Maya Trung Mỹ là hai dòng "thuộc địa" của Đất Mẹ Mu mặc dù xa cách ngàn trùng nhưng tương thuận với nhau về mọi điểm (4). Như thế Việt ngữ ruột thịt với Maya ngữ Trung Mỹ. Mặt khác, theo Jaurequi câu nói cuối cùng của Chúa Jesus là tiếng Maya Trung Mỹ và ta đã thấy Maya là một thứ Bộc Việt, một thứ Việt dòng âm và sự khảo cứu của tôi cũng đã cho thấy câu nói của Chúa là tiếng Việt. Như thế thì rõ ràng như "con cua tám cẳng hai càng, một mai hai mắt rõ ràng con cua" là câu nói cuối cùng của Chúa Jesus là tiếng cổ Việt.

Nhìn tổng quát, tóm tắt lại, ta có thể làm một cái tam đọan luận đơn giản là:

-theo J. Churchward, Chúa Jesus nói tiếng cổ Đông Á (trong đó có tiếng Việ t hay tiếng Việt liên hệ với). Mặt khác tiếng cổ Đông Á liên hệ với tiếng Nam Đảo và tiếng Maya Trung Mỹ châu.
-theo Jaurequi, Chúa nói tiếng Maya Trung Mỹ châu và tiếng này liên hệ với tiếng Nam Đảo và tiếng Việt (Bình Nguyên Lộc).

Như thế chúa nói tiếng Việt là chuyện tất nhiên.

Kết Luận

Tóm lại câu nói cuối cùng của Chúa Jesus trên thánh giá là câu nói bằng một ngôn ngữ tối cổ của loài người, có thể hiểu qua ngôn ngữ Maya Đông Á châu của James Churward, qua ngôn ngữ Maya Trung Mỹ của Jaurequi và qua ngôn ngữ Việt của tôi. Chúa nói tiếng Việt. Dù gì thì qua câu nói này ta rút ra được một điều chắc chắn là tiếng Việt là một thứ ngôn ngữ nằm trong nhóm ngôn ngữ cổ nhất hay liên hệ với một thứ ngôn ngữ cổ nhất của loài người. Rõ ràng James Churchward cho tiếng Naga-Maya là "tiếng tối cổ", Jaurequi cho tiếng Maya Trung Mỹ là "tiếng cổ nhất hiện biết đến" thì hiển nhiên Việt ngữ liên hệ với hai ngôn ngữ đó cũng phải là một ngôn ngữ tối cổ. Ta có thể so sánh tiếng Việt với bất cứ ngôn ngữ nào của loài người. Ta có thể dùng tiếng Việt để nghiên cứu bất kỳ một ngôn ngữ nào của loài người và ngược lại có thể dùng bất cứ một ngôn ngữ nào của loài người để nghiên cứu tiếng Việt.

Ta có thể dùng tiếng Việt để tìm ra nguồn gốc ngôn ngữ loài người (xem Việt Ngữ và Nguồn Gốc Ngôn Ngữ Loài Người trong Tiếng Việt Huyền Diệu).
===============================

Tài Liệu Tham Khảo

.James Churchward:
-The Lost Continent of Mu, 1969 Paperback Library Edition, Coronet Communications Inc.;
-The Childen of Mu, 1959 Compton Printing Works Ltd, London.
-The Sacred Symbols of Mu, Neville Spearman, London.
.Don Antonio Batres Jaurequi, History of Central America.
.Oppenheimer, Stephen, Eden in the East: the Drowned Continent of Southeast Asia, Phoenix, London, 1998.
.Irene Nicholson, Mexican and Central American Mythology.
.Robert Blust, Austronesian Etymologies, Oceanic Languistics, Vol. XIX, No 1 and 2, 1980.
.Bình Nguyên Lộc, Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam, Xuân Thu xuất bản.
.Kim Định, Việt Lý Tố Nguyên, An Tiêm xuất bản 1970.
.Nguyễn Xuân Quang:
-Tiếng Việt Huyền Diệu.
-Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt Y Học Thường Thức xuất bản, 1999.
-Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa dân Việt, 2002.

Theo nguồn Lyhocphuongdong.org

Đọc thêm!

Tiểu Sử Bác Sĩ Tống Thượng Tiết (1901-1944)

Ông Tống Thượng Tiết được một người viết về ông mệnh danh là "một con người lạ lùng", tưởng cũng cần tìm hiểu. Ông Tống Thượng Tiết sanh ngày 27-9-1901, tại làng Honchek, huyện Hinh hoa, tỉnh Phúc Kiến (Nam Trung Hoa).
Ông là người con thứ nhất chào đời sau khi mẹ ông trở lại tin thờ Chúa. Tên ông là "Ju-An", nghĩa là "Thiên Ân". Ông người tướng mạo kỳ dị: đầu to mắt nhỏ, màu da ngăm đen. Ông sanh ra nhằm lúc gia đình túng bấn nên không được thân phụ ông ưa cho lắm.


Ngày 10-2-1920, ông Tiết rời quê hương xuống tàu để sang Hoa Kỳ du học. Năm 1923 ông đậu Cử nhân khoa học và là một trong 4 sinh viên xuất sắc nhất của lớp có 300 người! Ông cũng được tưởng thưởng huân chương về hóa học. Báo chí ở khắp nước Mỹ thời ấy ca tụng chàng sinh viên ưu tú, thông minh người Trung Hoa này không tiếc lời. Trường Đại học Minnesota mời ông đến diễn thuyết và phụ giáo. Có một ân nhân đã hứa giúp ông 1000 USD (một số tiền lớn thời ấy) nếu ông vào học y khoa ở Đại học Harvard. Sau đó ông theo Ban khoa học ở Đại học Ohio, tiểu bang Columbia để lấy bằng Tiến sĩ khoa học. Ông học thêm tiếng Đức và tiếng Pháp để theo học triết học. Năm 1924 ông nhận bằng Tiến sĩ khoa học, và sau đó một năm 9 tháng ông giật luôn mảnh bằng Tiến sĩ triết học. Lúc bấy giờ trong lòng nhà bác học Tống nổi lên một cuộc tranh chiến lớn: Hoặc là về nước đóng góp tài năng tri thức mình để xây dựng quê hương xứ sở; hoặc là hiến dâng mình cho Đức Chúa Trời để làm công bộc hữu dụng của Ngài truyền rao Phúc Âm cho hàng vạn linh hồn đang chìm đắm trong bể tội? Cùng lúc ấy một câu Thánh Kinh quen thuộc đánh mạnh vào tâm trí ông: "Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn thì có ích gì; người sẽ lấy chi để đổi linh hồn mình lại?" Đồng thời có Mục sư Wilbur Fowler đến thăm và khuyến giục bác sĩ nên đi học thêm Thần học tại chủng viện Union Theological Seminary để chuẩn bị hầu việc Chúa.
Mùa thu năm 1926, Tống Bác sĩ nhập học chủng viện Union ở thành phố New York. Ông được Chúa dạy dỗ, và trong khi học, Bác sĩ Tiết cũng thường tới lui thăm viếng hai ông bà Giáo sĩ Deming đã từng hầu việc Chúa ở Triều Tiên nhiều năm, và cũng từng làm Giáo sư một chủng viện của Hội Thánh Giám Lý.
Lúc bấy giờ ông Tiết mê man trong sự học hành và hết sức tập chú tâm trí, tư tưởng mình trong việc khảo cứu. Đáng lý phải học 3 năm để đậu Thần học Tiến sĩ, thì ông muốn học chỉ 1 năm! Ngoài giờ học trong lớp ra, ông còn học thêm mỗi ngày vài giờ riêng nữa. Ông cũng muốn học khoa Thần học chuyên sâu để biết sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. Nhưng trải qua thời gian ấy, ông mất hẳn đức tin, nhạo báng các vị giáo phẩm. Ông lại quay sang các tôn giáo Đông phương như Phật giáo, Lão giáo, Khổng giáo. Nhưng ông vẫn không được bình an. Đức Chúa Trời bởi Thần hựu Ngài đã sắp đặt để hướng dẫn ông theo các bạn bè đến dự các buổi thuyết giảng Tin Lành ở Hội Thánh Calvary Baptist do Tiến sĩ Halddeman là Mục sư. Trong lúc đi đường Bác sĩ Tiết thầm ao ước được nghe một nhà truyền giáo trứ danh hùng hồn giảng dạy. Nhưng trái lại, khi đến nơi ông chỉ thấy một cô gái 15 tuổi đứng lên mạnh mẽ làm chứng về Tin Lành quyền phép. Khi cô ấy bước lên tòa giảng đọc Thánh Kinh và cầu nguyện, tự nhiên Bác sĩ Tống cảm thấy ngay có một điều gì khác lạ trong bầu không khí. Ông nhìn thấy sự hiện diện của Đức Chúa Trời đang tỏ ra. Tối hôm ấy Tin Lành được truyền giảng rõ ràng, thiết thực với tất cả quyền năng Chúa. Thập tự giá được đưa lên cao. Ông làm chứng rằng: "Dầu tôi lúc ấy là một người kiêu ngạo mà cũng được cảm động sâu xa, và linh hồn khô hạn của tôi quả đã được đã khát".
Ngày 4-10-1927 ông xuống tàu trở về Thượng Hải. Trong những ngày lênh đênh trên biển cả, ông nghe rõ được tiếng Chúa kêu gọi. Nên khi tàu cập bến ông về phòng mở va li và lấy những văn bằng cao học cùng chiếc chìa khóa vàng thân hữu mà người ta khâm phục trao tặng ông, đem liệng tất cả xuống biển. Ông chỉ giữ lại một số tiền và cái học vị Tiến sĩ Thần khoa để làm cho cha mẹ vui lòng thôi. Việc đầu tiên khiến cho cả nhà đi ra đón ông phải ngạc nhiên là lối phục sức của ông. Ông chỉ mặc một chiếc áo dài người Hoa đơn sơ như bao nhiêu người Trung Hoa khác; không giống bất cứ sinh viên du học nào từ Âu Mỹ trở về - sang trọng trong những bộ Âu phục đắt tiền. Ông không có gì đổi thay ở bên ngoài cả! Bởi đó mà cha mẹ ông vô cùng thất vọng. Hai vị những tưởng rằng với tư cách là một học giả xuất sắc, tài trí hơn người theo như người ta ca tụng lâu nay, tương lai sẽ vô cùng rạng rỡ, ông sẽ phụ giúp cho cha mẹ mà lo cho các em ông học hành, đỡ đần cho cảnh nghèo thiếu của ông bà chứ? Nào ngờ thế này?
Từ đó, Tống Bác sĩ không thèm khát một điều gì hơn là được làm tôi tớ hèn mọn của Đức Chúa Trời, đem Tin Lành cứu rỗi của Chúa Giê-xu đi rao báo khắp nơi, đưa đường chỉ lối cho bao nhiêu tội nhân tìm về Ánh sáng Chân lý.
Sau khi lập gia đình, ông Tiết gia nhập Đoàn Truyền Giảng Tin Lành do Mục sư Frank Cartwright làm trưởng đoàn năm 1928. Kế đó ông vào Ban Lưu Hành Tuyên Đạo do Mục sư người Hoa là Kế Chí Văn lãnh đạo, từ năm 1931. Tính từ khi Bác sĩ Tiết tham gia Ban Truyền Giáo Bê-tên này, ông đã chu du 54.823 dặm, giảng 1.199 bài cho 400.000 thính giả trong 13 tỉnh của Trung Quốc và đưa 18.000 linh hồn về với Chúa. Ông cộng tác với ban Bê-tên của Bác sĩ Kế Chí Văn được 3 năm.
Năm 1938, Bác sĩ Tống Thượng Tiết đã đến thăm giảng cho Hội Đồng Tổng Liên Hội thuộc Giáo hội Tin Lành Việt Nam ở Vĩnh Long, và sau đó ông ra Đà nẵng. Đi đến đâu ông cũng đem lửa Thánh Linh đến đó. Nhiều tội nhân ăn năn trở lại tin thờ Chúa, tôi con Chúa trong Hội Thánh thì được vực dậy khỏi tình trạng mê ngủ thuộc linh. Hàng trăm ban chứng đạo thành lập để đi công bố Tin Lành. Ông cũng đã đem lửa phấn hưng đến cho các xứ như Hongkong, Taiwan, Singapore, Malaysia, Indonesia, Thailand,... Đức Chúa Trời cũng ban cho Tống Bác sĩ đặc quyền cầu nguyện chữa bệnh. Ban đầu ông không dám làm việc này. Nhưng sau ông hối tiếc vì biết rằng mình đã lỡ đem chôn giấu ta-lâng Chúa. Thánh Linh quyền phép Chúa đã đồng công với ông trong sự đặt tay mà cầu nguyện chữa bệnh, đuổi quỷ.
Tống Bác sĩ là con người ngoại hạng, đã thông thái, tài ba song ông cũng rất nhu mì khiêm nhường, ông chẳng hề khoe khoang, tự phụ; lúc nào ông cũng xưng mình là tôi tớ hèn mọn hơn hết của Đức Chúa Trời. Ông rất say mê, ham thích đọc học Lời Chúa. Mỗi ngày dầu bận rộn đến mấy ông cũng đọc đủ 11 chương Thánh Kinh, và luôn luôn cảm thấy Lời Chúa mới mẻ, ngon ngọt. Bài giảng của ông là Thánh Kinh, trưng dẫn Thánh Kinh. Ông dậy sớm, nhiệt thành cầu nguyện. Ông chẳng phí một chút thì giờ, chỉ chuyên chú làm giàu cho kiến thức tâm linh của mình để có lương thực tươi mới, sẵn sàng nuôi vô số linh hồn đói khát. Ông làm việc dường như được Linh cảm thời giờ chẳng còn bao lâu, nên ông đã tận tâm, tận lực, hết mình để làm việc tốt nhất mà Chúa giao thác. Ông nói ít, giảng nhiều và cầu nguyện không hề ngưng nghỉ.
Bác sĩ Tiết có viết một quyển sách "Những câu chuyện ngụ ngôn" để nhằm làm sáng tỏ những chân lý của Thánh Kinh, theo như lời thực chứng của ông thì từ Thánh Linh ban cho những câu chuyện này. Quyển sách được xuất bản năm 1951. Ông cũng là tác giả của nhiều bản Thánh ca bằng Hoa ngữ, và bài "Bốn phương hư không" của ông, các tín hữu Tin Lành Việt Nam rất quen thuộc. Bài này gồm tóm hết tâm chí hy sinh phục vụ Chúa của ông (Thánh ca Việt Nam số 385).
Bác sĩ Tống Thượng Tiết chỉ được Chúa cho sống có 43 năm, và phụng sự Chúa 15 năm, song xét ra Thánh chức ông đã đem lại kết quả vượt trội hơn nhiều tập đoàn nhân sự cộng lại trong nhiều thập niên. Cụ Mục sư Phạm Xuân Tín là một trong những nhân chứng sống đã được đích thân Bác sĩ Tiết đặt tay cầu nguyện khi Cụ còn là một Truyền đạo thanh niên; Cụ cho biết: "Ở tại Việt Nam dầu đã nghe người ta nói đến những cơn phấn hưng... Nhưng chưa có một cuộc phục hưng thực sự nào từ Thánh Linh cả. Chỉ ngoại trừ có cuộc phát động phấn hưng sâu rộng mà Đức Chúa Trời đã dùng Bác sĩ Tống Thượng Tiết đem đến cho Giáo hội Tin Lành Việt Nam năm 1938. Cuộc phấn hưng thực sự đó đã ảnh hưởng trải qua hằng nhiều thập niên, và vẫn còn cho đến ngày nay". Nhân chứng thứ hai là Cụ cố Mục sư Phạm Văn Năm, đã viết trong quyển Hồi ký của cụ "55 năm phục vụ Chúa": "Tháng 5 năm 1938, Tổng Liên Hội có mời một Tiến sĩ người Trung Hoa là Tống Thượng Tiết đến giảng cho Hội Đồng toàn quốc Việt Nam họp ở Nhà thờ Vĩnh Long... Có thể nói đây là một Hội Đồng lịch sử vĩ đại nhất; vì tại kỳ Hội Đồng này Đức Chúa Trời đã đổ một cơn phấn hưng xuống khắp ba miền từ Nam chí Bắc. Vì lời giảng rất hùng hồn của Tiến sĩ như lửa cháy bừng bừng, không ai có thể chịu nổi mà tất cả mọi người đều phải hạ mình ăn năn, xưng tội ra với Chúa... Ông Tống Bác sĩ đã giảng với quyền năng Thánh Linh. Suốt một tuần lễ chỉ một mình ông giảng với 3 thông dịch viên... Giáo sĩ J. Olsen phiên dịch cho ông một ngày là khan cả tiếng phải uống nước luôn, nhưng Bác sĩ diễn giả lại không uống một hớp nước nào trong khi giảng suốt một tuần như vậy. Các vị khác như Giáo sĩ P. Carlson, Giáo sĩ D. Jeffrey đều rất mệt và tắt tiếng... Nhưng phần ông Tống giọng nói vẫn sang sảng và mạnh mẽ cách rất lạ thường. Mỗi giờ họp ai đi trễ thì coi như ngồi ở phía dưới hoặc hai bên hông, bên ngoài, vì khó kiếm ra chỗ ngồi. Và ngoài sự giảng dạy đầy sự xức dầu Thiên thượng, thì ông còn có ơn cầu nguyện chữa bệnh. Thường ông cầu nguyện cho ai muốn đầy dẫy Thánh Linh trước, sau mới đến sự đặt tay xức dầu cầu nguyện cho người bệnh. Ngay đến bệnh nhân ở xa không có mặt, nhưng qua người nhà thì ông cũng cầu nguyện cho lành mạnh được. Có rất nhiều người bởi ông Tống Bác sĩ đặt tay cầu nguyện mà được lành mạnh, họ đã đứng dậy làm chứng hoặc hát Ha-lê-lu-gia, cảm tạ Chúa".
Tháng 7 năm 1944, Bác sĩ Tống Thượng Tiết sống những ngày cuối cùng của đời mình trong cơn đau đớn, nhức nhối của thể xác tột độ vì hai căn bệnh ung thư và lao phổi cùng một lúc kéo đến hành hại ông, nhưng ông không hề than van một lời, chỉ để nhiều thì giờ cầu nguyện, đọc Thánh Kinh và viết Hồi ký. Khi quá yếu sức không còn viết được nữa, ông lại nằm đọc cho hai thư ký viết. Khi ông yếu mệt nhiều, thì ông biết rằng ông sắp sửa đi về Nhà Cha trên trời. Gia đình, thân hữu đều có mặt đông đủ tại giường bệnh. Rồi bình minh ngày 18-8-1944, Bác sĩ Tống Thượng Tiết "chạy xong cuộc đua thiêng liêng" trên đất. Tang lễ của Bác sĩ cử hành long trọng do Mục sư Vương Minh Đạo làm chủ lễ. Có chừng 300 các đại biểu của nhiều Hội Thánh xa gần đều đến tham dự trong Nhà thờ, như ở Chefoo, Swatowf, Amoy và Foochow,...

Đọc thêm!

Mục sư Tiến sỹ Tống Thượng Tiết

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tống Thượng Tiết (Hán văn: 宋尚節; Giản thể: 宋尚节; Bính âm: Sòng Shàng-Jíe; Wade-Giles: Sung4 Shang4-Chieh2), còn gọi là John Sung (29 tháng 9 năm 1901 – 18 tháng 8 năm 1944), là nhà truyền bá phúc âm nổi tiếng, và là tác nhân chính trong cuộc phục hưng tôn giáo khởi phát trong vòng người Hoa sinh sống ở đại lục, Đài Loan, và Đông Nam Á trong hai thập niên 1920 và 1930. Ông thường được nhắc đến với biệt danh “John Wesley của Trung Hoa”, “Tàu Phá băng”, và “Sứ đồ Phục hưng”.

Thiếu thời
Tống Thượng Tiết chào đời tại Hưng Hóa (nay là Phủ Điền - 莆田), tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc.[1] Được giáo dưỡng trong môi trường Cơ Đốc, thân phụ của cậu là quản nhiệm một nhà thờ thuộc Giáo hội Giám Lý, Tống Thượng Tiết thường giúp đỡ cha trong các công việc của nhà thờ, thay cha thuyết giảng trong các buổi nhóm buổi tối khi ông bận việc hoặc bệnh, do đó cậu có biệt danh là “Quản nhiệm nhí”.[2]
Năm 1920, Tống Thượng Tiết được gởi sang Mỹ để theo học tại Đại học Wesleyan, bang Ohio, và sau đó tại Đại học Tiểu bang Ohio.[1] Là một sinh viên xuất sắc, sau sáu năm Tống lấy bằng tiến sĩ hóa học.[2] Luận văn hóa học và các tài liệu nghiên cứu khác của Tống vẫn được lưu giữ tại thư viện của trường cho đến ngày nay.
Mặc dù có nhiều cơ hội nghề nghiệp trước mắt, song với niềm xác tín được ơn gọi từ Thiên Chúa cung hiến cuộc đời cho Chúa Giê-xu theo lời dạy của ngài, "Người nào được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì?"[3] Tống Thượng Tiết quyết định vào Chủng viện Thần học Union tại New York để nghiên cứu thần học.[2]
Ngã rẽ
Trong thời gian theo học tại chủng viện (đặc biệt vào ngày 10 tháng 1 năm 1927), Tống Thượng Tiết nói đến ân tứ của Chúa Thánh Linh ông nhận lãnh trong khi cầu nguyện, miêu tả đó là một trải nghiệm kỳ diệu cho ông. Có lần ông reo lên, “Đây đích thực là sinh nhật thuộc linh của tôi! Dù đã tin nhận Chúa Giê-xu từ những ngày thơ ấu, nhưng chính trải nghiệm này thay đổi cuộc đời tôi”. Và theo tự sự của ông, “Chúa Thánh Linh giáng đổ trên tôi, giống như nước tuôn chảy trên đầu tôi vậy”, rồi ông thuật tiếp “Chúa Thánh Linh liên tục tuôn đổ trên tôi như những con sóng nối tiếp nhau”.
Sau trải nghiệm này, Tống Thượng Tiết cảm nhận được ban cho nhiều sức mạnh cũng như nhiệt huyết để đi ra rao giảng phúc âm. Với những biến cải triệt để từ nội tâm, Tống đến với những bạn đồng học và ban giảng huấn chủng viện để trình bày phúc âm với nhiệt tâm sung mãn. Mọi người trong Chủng viện Union – học viện này nổi tiếng với quan điểm tự do trong thần học - xem ông là kẻ mất trí, và quyết định gởi ông vào một dưỡng trí viện, Tống Thượng Tiết bị giữ tại đây trong 193 ngày.
Xem đây là “Thời kỳ lưu lạc trong hoang mạc” của cuộc sống cô độc, Tống Thượng Thiết bắt đầu đọc và suy ngẫm Kinh Thánh. Ông đọc toàn bộ Kinh Thánh bốn mươi lần đến nỗi trở nên rất quen thuộc với những giáo huấn ông tìm thấy trong Kinh Thánh. Chính giai đoạn chuyên tâm nghiên cứu Kinh Thánh và nhận lãnh những trải nghiệm làm tươi mới tâm linh là nhân tố nền tảng khởi phát một trong những cuộc phục hưng tôn giáo lớn nhất thế kỷ 20.
Hồi hương
Nhờ sự can thiệp của Lãnh sự Trung Hoa, Tống Thượng Tiết được ra khỏi dưỡng trí viện và về nước vào tháng 11 năm 1927,[1] trước khi kịp tốt nghiệp từ Chủng viện Thần học Union. Trước khi tàu cập bến, ông ném xuống biển tất cả giải thưởng hàn lâm mà ông đã được trao tặng, chỉ giữ lại văn bằng tiến sĩ để tặng cha ông. Tống Thượng Tiết xem đây là hành động thể hiện sự cung hiến trọn vẹn cho phúc âm.[1]
Sau khi trở về quê hương, Tống Thượng Tiết bắt đầu rao giảng phúc âm tại vùng Mân Nam trong ba năm, tập chú vào các chủ đề như “Thập tự giá” và “Huyết của Chúa Giê-xu”. Thông điệp của ông không mới lạ, nhưng được trình bày cách sống động nhằm luận giải những giáo huấn của Kinh Thánh liên quan đến các lẽ đạo “tái sinh”, “cứu rỗi” và “mang vác thập tự giá”.
Năm 1930, Tống Thượng Tiết gia nhập Trường Kinh Thánh Bethel tại Thượng Hải, cùng các cựu sinh viên thành lập Nhóm Truyền bá Phúc âm Bethel (伯特利佈道團). Ông đặc biệt quan tâm đến phương cách đối phó với tội lỗi. Tâm điểm của thông điệp Tống Thượng Tiết muốn truyền đạt cho thính giả có thể được tóm tắt như sau:
• Không chỉ thừa nhận tội lỗi của mình mà cần phải “ăn năn hối cải về những tội đã phạm”.
• Sau khi ăn năn tội lỗi cần phải thay đổi hoàn toàn lối sống cũ.
• Sau khi thay đổi nếp sống cũ, cần phải “trả nợ tội lỗi”, nghĩa là cần phải bồi thường cho những hành động sai trái trước đây, hoặc phải công khai xin lỗi người mình đã xúc phạm hoặc gây tổn hại.
• Chỉ cầu nguyện “Lạy Chúa, xin thương xót tôi vì tôi là kẻ có tội!”[4] là chưa đủ. Cần phải công khai bày tỏ sự ăn năn trong từng chi tiết. Tống Thượng Tiết liệt kê hai mươi nhóm tội chính và cho rằng cần phải thừa nhận và ăn năn tội lỗi cách công khai trong các buổi nhóm.
Với phong cách sinh động và sôi nổi trong khi thuyết giảng, Tống Thượng Tiết thường di chuyển liên tục trên tòa giảng và hát thánh ca có khi kéo dài đến ba mươi phút.
Là một nhà thuyết giáo luôn đốt cháy bởi nhiệt tâm dành cho phúc âm và có sức thuyết phục mãnh liệt, tên tuổi của Tống Thượng Tiết được nhiều người biết đến trên toàn cõi Trung Hoa cũng như tại nhiều nơi khác trong khu vực. Năm 1936, người ta tin rằng có hơn 100 ngàn người Hoa đã tiếp nhận đức tin Cơ Đốc qua mục vụ của ông.[2] Tống Thượng Tiết cũng tìm đến những cộng đồng người Hoa sống rải rác khắp Đông Nam Á. Tháng 5 năm 1938 ông được mời đến thuyết giảng tại Hội đồng Tổng Liên Hội Hội thánh Tin Lành Việt Nam tổ chức ở Vĩnh Long, sau đó ông ra Đà Nẵng tiếp tục giảng dạy nhằm chấn hưng hội thánh.[5]

Thông điệp phúc âm của ông lập nền trên Kinh Thánh và tập chú vào sự cần thiết phải ăn năn tội lỗi. Hết sức cẩn trọng khi xem xét các vấn đề liên quan đến tội lỗi, Tống Thượng Tiết kêu gọi người nghe quay trở lại ăn năn hối cải đối chiếu với một danh sách các tội lỗi mà ông thường đọc lớn trước cử tọa. Ông dạn dĩ quở trách tội lỗi và tính đạo đức giả, ngay cả đối với các mục sư và quản nhiệm, là những người hợp tác với ông để tổ chức các buổi thuyết giảng. Nhiều người cảm thấy bị xúc phạm nhưng Tống Thượng Tiết không mấy bận tâm vì mục tiêu tối thượng của ông là tôn vinh Thiên Chúa chứ không cố làm hài lòng người khác. Thường khi, thông điệp của ông chạm đến đáy lòng của thính giả, nhiều người vỡ òa trong nước mắt khi nhận biết tình yêu của Chúa Cơ Đốc. Bên ngoài tòa giảng, Tống Thượng Tiết dành nhiều thì giờ cho cầu nguyện. Các tín hữu thường trình bày với ông các nhu cầu thuộc linh và thuộc thể để ông thành lập một danh sách các vấn đề cần cầu nguyện, dựa trên danh sách này Tống Thượng Tiết dành nhiều giờ trong ngày để cầu nguyện cho họ. Theo định nghĩa của Tống Thượng Tiết, đức tin nghĩa là “thức canh cho công việc của Thiên Chúa trong sự khẩn nguyện”.
Cuối đời và Di sản
Trong những ngày cuối đời, bệnh tật tàn phá sức khỏe Tống Thượng Tiết và ảnh hưởng không ít đến nỗ lực truyền bá phúc âm của ông. Dù vậy, ông vẫn tiếp tục thuyết giảng, nhiều lần gập mình trên tòa giảng vì đau đớn. Tống Thượng Tiết từ trần lúc 43 tuổi. Ông là nhà truyền bá phúc âm người Trung Hoa có nhiều ảnh hưởng nhất trong suốt thập niên 1930, để lại những dấu ấn sâu đậm trên Cơ Đốc giáo trong thế giới Hoa ngữ và vùng Đông Nam Á. Qua thông điệp của Tống Thượng Tiết hàng ngàn người tiếp nhận đức tin Cơ Đốc, được dẫn dắt vào tình trạng sâu nhiệm của nếp sống Cơ Đốc, từ đó đóng vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển Cơ Đốc giáo trong khu vực.
Boon Mark nhận xét về Tống Thượng Tiết, "Ông nói ít, giảng nhiều, và cầu nguyện nhiều nhất."[6]
Tham khảo
• Smithers, Dave John Sung - Apostle of Revival, retrieved from: [1]
• Sng, Bobby E.K. In His Good Time: The Story of the Church in Singapore 1819-2002, (3rd ed.), Singapore Bible Society, Singapore 2003, pp. 172-179.
• Tow, Timothy John Sung - My Teacher, Christian Life Publishers, Singapore 1985.
Chú thích
1. ^ a b c d John Sung by David Smithers
2. ^ a b c d Tow, TimothyJohn Sung and the Asian Awakening
3. ^ Phúc âm Mark 8:36
4. ^ Phúc âm Lu-ca 18: 13
5. ^ Tiểu Sử Bác Sĩ Tống Thượng Tiết
6. ^ Smithers, David John Sung

Đọc thêm!

KHI THƯỢNG ĐẾ TRẢ LỜI

Tác giả : Tiến sĩ Cho Yonggi
Tôi nằm chờ chết trong chiếc lều duy nhất dành cho tôi, phủ bằng tấm chăn tả tơi bẩn thỉu.Thật là một điều dường như hoàn toàn bất công. Tôi đã làm việc khó nhọc để sống lây lất bằng một bửa ăn. Tôi đã phấn đấu vất vả để học hành, để chuẩn bị tạo lập cuộc đời. Tôi đã mơ ước xây dựng một điều gì cho riêng tôi, nhưng bây giờ tôi đang nằm để chờ chết.

Từ thuở bé, tôi đã thờ lạy Phật, nhưng bây giờ Phật chẳng ban cho tôi sự cứu giúp nào cả. Thật ra, tôi không ngạc nhiên, vì trong những năm gia đình theo Phật, chưa bao giờ tôi thấy Phật đáp ứng một lời cầu xin nào.

Gia đình tôi sống ở miền bắc Đại Hàn. Khi chiến tranh bùng nổ, chúng tôi đã mất nhà cửa cùng với những người khác. Chúng tôi lánh nạn xuống Pusan, ở miền Nam. Tiền bạc và thực phẩm vô cùng thiếu thốn. Tôi phải làm việc thật vất vả mới có đủ một bửa ăn mỗi ngày và để tiếp tục học hành.

Một ngày kia, trong lúc đang làm việc, máu bỗng trào ra đầy miệng tôi. Tiếp theo đó, máu cũng chảy ra nơi lỗ mũi. Tôi cố gắng để khỏi bị nghẹt thở cho đến khi ngất xỉu. Khi tỉnh dậy, áo quần tôi dính đầy máu. Tôi không thể gượng dậy được vì quá choáng váng. Tôi cũng không biết tôi đã nằm tại đó bao lâu. Cuối cùng, tôi phải khó nhọc lắm mới đứng dậy được và bước về nhà. Suốt đêm tôi bị lên cơn sốt mê man, lúc mê lúc tỉnh, và mỗi lần ho máu lại trào ra.

Sáng hôm sau, tôi cảm thấy gần chết hơn là sống. Cha mẹ tôi đưa tôi đến một bịnh viện và nhờ một y sĩ khám nghiệm. Ông ta chụp quang tuyến X buồng phổi của tôi, sau đó ông bảo tôi: "Tôi rất buồn, nhưng chúng tôi không thể làm gì cho anh được. Anh không thể sống thêm một tháng nữa."

"Bác sĩ!" Tôi thét lên: "Ông đang nói thật với tôi chứ?"

ANH KHÔNG THỂ SỐNG THÊM MỘT THáNG NỮA:

Vị y sĩ cho tôi xem tấm phim chụp quang tuyến X và giải thích: "Lá phổi bên phải của anh hoàn toàn bị hủy hoại vì bịnh lao. Phần bên trái đã nát và ung thối. Lá phổi bên trái của anh cũng bị lao. Tình trạng thiếu dinh dưỡng và làm việc cực nhọc đã khiến trái tim anh nở lớn ra, và khiến cho máu không thể lưu thông điều hòa. Không có một loại dược phẩm nào có thể chữa trị những chứng bịnh này, cho nên tôi không còn cách nào khác hơn là nói với anh sự thật!"

Tôi trở về nhà, người choáng váng. Cha tôi an ủi tôi: "Con ạ, không có sinh cũng không có tử, không có vui cũng không có buồn. Chỉ ở trong Phật mới có sự thực hữu. Con hãy quên sự sống sự chết đi để lo tịnh dưỡng." Tôi phản đối: "Máu đang trào ra nơi miệng con là thật. Sự đau đớn mà con đang chịu đựng là thật. Phật và những triết lý của cha không giúp ích gì cho con cả. Con bác bỏ hết."

Một hôm, đang khi nằm trong chiếc lều, sự sợ hãi và tuyệt vọng xâm chiếm tâm tư tôi. Tôi gào lên: "Có Thượng Đế không? Nếu có Đấng nào gọi là Thượng Đế đang ở chỗ nào trong vũ trụ, xin đến và cứu giúp tôi! Tôi muốn được sửa soạn để chết!"

CÓ THƯỢNG ĐẾ TRONG VŨ TRỤ KHÔNG?

Thượng Đế đã nghe lời cầu xin của tôi và Ngài đã trả lời bằng một hình thức mà tôi không nghĩ đến! Một cô gái nhỏ gõ cửa và bước vào, tay ôm quyển Kinh Thánh. Tôi kinh ngạc vì theo văn hóa của Đại Hàn, đàn bà không cấp tiến và đàn ông không thích để đàn bà dạy dỗ. Tôi quyết liệt bảo cô bé rời khỏi căn lều, nhưng cô nói rằng: "Tôi biết ông đang sắp chết, tôi muốn được nói chuyện với ông về Đức Chúa Giê-Xu Christ, Cứu Chúa của tôi."

Tôi càng giận dữ và mắng nhiếc cô gái. Tôi bảo cô rằng hàng triệu vi trùng lao đang bay đầy trong không khí và cô sẽ bị lây bịnh. Cô chỉ trả lời: "Đấng Christ của tôi sẽ bảo vệ tôi"; và cô tiếp tục làm chứng cho tôi. Cuối cùng cô rời căn lều và tôi nói: "Nhờ ơn Phật, cô ta đã đi."

Sáng hôm sau cô gái trở lại. Lần này cô hát những bài ca và đọc lớn những lời trong Kinh Thánh. Tôi nguyền rủa và gọi cô ta là "một con chó Cơ-đốc", nhưng cô ta không có phản ứng gì cả. Suốt ngày chỉ nói về Đấng Christ.

Vào ngày thứ năm khi cô gái đến, tôi hỏi tại sao cô tiếp tục đến và cầu nguyện cho tôi. Cô bảo tôi: "Có một Đấng thúc dục tôi đến đây và cầu nguyện cho ông."

"Đấng đó là ai? Tôi hỏi cô gái.

"Là Đức Chúa Giê-Xu của tôi." Cô gái trả lời và nước mắt bắt đầu chảy dài xuống trên đôi má của cô. Thình lình sự cố chấp của tôi tan biến, tôi cũng bắt đầu khóc và bảo cô gái: "Tôi muốn biết Chúa Giê-Xu của cô."

Cô trao cho tôi quyển Kinh Thánh và tôi bắt đầu đọc từ chỗ được cô chỉ dẫn, đoạn thứ nhất của sách Mathiơ. Mấy phút sau tôi kêu lên: "Đoạn này giống như một cuốn điện thoại niên giám, làm thế nào giúp ích tôi được?" Cô bảo tôi cứ tiếp tục đọc và sẽ tìm được một câu chuyện kỳ diệu. Sau khi cầu nguyện thêm một lần nữa, cô gái rời khỏi căn lều.

Tôi đọc tiếp, đinh ninh sẽ gặp những triết lý khó hiểu, giống như triết lý của Phật giáo mà tôi đã đọc. Nhưng tôi khám phá ra: Kinh Thánh là một quyển sách nói về một Đấng gọi là Giê-Xu Christ, con của Đức Chúa Trời.

Tôi đọc những chỗ nói về Đức Chúa Giê-Xu chữa lành kẻ đau và cứu kẻ chết sống lại. Tôi nghĩ rằng nếu tôi chỉ đến với Chúa Giê-Xu thì Ngài sẽ giúp tôi. Nhưng lý trí lại cho rằng tôi không thể đến với Ngài được. Tôi đã xúc phạm và ghét Ngài. Tôi cố gắng tìm một câu Kinh Thánh dẫn chứng rằng Đấng Christ ghét bỏ tội nhân, nhưng hoài công tôi chẳng tìm được một câu nào cả. Trái lại, tôi thấy Ngài đã tha thứ cho người đàn bà tà dâm và giải thoát những kẻ bị quỷ ám. Ngài luôn luôn tiếp nhận kẻ đau ốm và người tội lỗi. Dần dần tôi ý thức được rằng, mặc dù tôi là một người nghèo nhất trong đám người nghèo, một kẻ đầy tội lỗi và sắp chết vì bịnh lao phổi, Đức Chúa Giê-Xu sẽ tiếp nhận tôi.

Từ ngày tặng cho tôi quyển Kinh Thánh, cô gái không trở lại. Tôi không biết tên cũng không biết làm thế nào để tìm cô gái. Tôi đang cần một người hướng dẫn tôi để gặp Đức Chúa Giê-Xu. Tôi cố gắng bước ra ngoài đường phố và dọ hỏi. Một người chỉ cho tôi một cơ sở truyền giáo, ở đó có một tu sĩ người Hoa Kỳ.

TÔI MUỐN BIẾT ĐỨC CHÚA GIÊ-XU CỦA CÔ:

Tôi kiệt sức đến nỗi không thể đi được mười bước mà không nghỉ, tôi phải nhờ người đàn ông đó đưa đi đến cơ sở truyền giáo. Khi chúng tôi đến nơi, người ta đang ca hát, gương mặt của mọi người đầy vẽ hân hoan. Vị tu sĩ người Mỹ đứng lên để giảng dạỵ. Tôi ngạc nhiên vì ông không mặc áo dài như những tu sĩ Phật giáo. Ông giảng qua một thông dịch viên, những lời giảng làm tôi cảm động. Khi ông mời những tội nhân bước lên phía trước, tôi là người đầu tiên đến gặp ông. Vị tu sĩ đưa tôi vào văn phòng, giải thích cho tôi biết chương trình cứu rỗi và hướng dẫn tôi cầu nguyện ăn năn tội.

Trong khi tôi cầu nguyện ăn năn tội với Đức Chúa Trời và quyết định tiếp nhận Đức Chúa Giê-Xu làm Cứu Chúa của chính tôi, thì một niềm bình an tràn ngập trong tôi. Tôi cảm thấy tất cả tế bào trong thân tôi đều nhận được một sức mới. Có một năng lực đang dâng trào lên trong người tôi và tôi tưởng rằng tôi sắp ói ra máu. Nhưng không phải, tôi nhận ra rằng đó là niềm vui! Tôi muốn hát vang lên, nhưng lại không biết hát như thế nào.

Tôi hỏi vị tu sĩ, đó là ông Louis Richards, một giáo sĩ thuộc giáo hội Phúc Âm Ngũ Tuần: "Đây là sự thực? Tôi đang bị thôi miên phải không?"

Ông trả lời: "Anh không bị thôi miên đâu. Đức Chúa Giê-Xu, nguồn nước hàng sống, đang chảy trào vào cuộc đời của anh. Đây là bằng chứng mà anh đang cảm thấy."

Tôi trở về nhà mang theo niềm vui sướng cùng sự bình an. Tôi kể lại cho gia đình nghe những điều đã xảy ra. ở Đại Hàn, người thờ phượng Đức Chúa Giê-Xu có nghĩa là chấm dứt thờ cúng vong linh của tổ tiên. Sự kiện này thường dẫn đến sự đoạn giao của gia đình. Chị tôi, người mà tôi kính yêu, đã thuyết phục tôi: "Em yêu mến Giê-Xu hơn gia đình sao? Em có thể bỏ hết gia đình vì Ngài sao?" Còn cha tôi thì bảo rằng ông không còn quan tâm đến sự sống chết của tôi nữa, và bảo tôi phải rời khỏi gia đình ngay. Tôi lấy một ít đồ dùng và đi đến nhà ông bác tôi. Gặp tôi ở ngưỡng cửa, bác tôi liền bảo: "Con chó Cơ-đốc bẩn thỉu, mày không được đón tiếp nơi đây đâu. Hãy đi chỗ khác."

Tôi không còn nơi nào khác để đi, nhưng niềm vui sướng và sự bình an vẫn tràn ngập tâm hồn tôi. Tôi quyết định đi lên núi đặng chờ chết. Lúc bấy giờ một ý nghĩ khác đến với tôi. Tôi phải đến nói vài lời cám ơn cuối cùng với người Mỹ đã hướng dẫn tôi gặp Đức Chúa Giê-Xu.

Gặp ông ở ngoài cửa, tôi nói: "Anh Richard, tôi thành thật cám ơn lòng tốt của anh đã hướng dẫn tôi đến với Đấng Christ. Từ khi tiếp nhận Ngài, gia đình đã từ bỏ tôi, cho nên tôi sắp lên núi để chờ chết. Tuy nhiên, tôi muốn anh biết rằng tôi biết ơn anh."

Mục Sư Richard kéo tôi vào trong nhà và đọc Kinh Thánh cho tôi nghe: "Khi cha mẹ từ bỏ tôi, Chúa sẽ đón tiếp tôi." Ông bà Richard dọn một chỗ cho tôi trong căn nhà của họ. Bà Richard nấu những món ăn ngon và chúng tôi cùng ngồi ăn.

Tôi đã khóc trong lúc ngồi ăn và nói rằng: "Anh Richard, tôi không biết rằng anh yêu thương tôi. Anh không liên hệ gì với tôi, sao anh có thể yêu thương tôi như thế này? Ông trả lời: "Bởi vì Đức Chúa Giê-Xu cũng đã cứu tôi."

Lương tâm không cho phép tôi ở chung trong nhà của họ mà tạo những tai hại cho họ vì chứng lao phổi của tôi. Cho nên nhờ sự giúp đỡ của Chúa, tôi thuê được một căn phòng nhỏ bên cạnh.

Mục sư Richard tiếp tục dạy Kinh Thánh cho tôi. Ông bảo tôi: "Lời Chúa có quyền năng sáng tạo phi thường. Lời Chúa sẽ chửa lành cho anh." Điều này hầu như quá siêu phàm đối với thực tế, nhưng Mục sư Richard đã chỉ tôi nhiều đoạn Kinh Thánh. Tôi học thuộc những câu Kinh Thánh này và một ngày kia tôi đem ra thí nghiệm.

Tôi khóa cửa phòng và bắt đầu cầu nguyện: "Kính lạy Đức Chúa Giê-Xu, con muốn được gặp Ngài, xin cho con biết rõ tương lai của con." Tôi chờ đợi, nhưng Đức Chúa Giê-Xu Christ không đến. Sau đó tôi nhắm nghiền mắt lại, hy vọng Ngài có thể hiện ra trong một sự hiện thấy. Nhưng không có một sự hiện thấy nào. Tôi cầu nguyện suốt ngày. Đêm đến ngực tôi đẩm ướt mồ hôi, nhưng tôi vẫn tiếp tục cầu nguyện. Quá nửa đêm, tôi không còn sức lực và nằm xuống nghỉ.

Thình lình căn phòng sáng rực. Những luồng ánh sáng thoạt đầu tôi tưởng là khói đang cuộn vào. Tôi kinh hoàng, tưởng căn nhà đang bốc cháy. Tôi kêu la, nhưng không có âm thanh nào toát ra.

Tuyệt vọng, tôi ngó chung quanh và thấy hai bàn chân đứng bên cạnh tôi. Tôi nhìn lên cao hơn và thấy một chiếc áo dài trắng. Rồi tôi thấy một gương mặt giống như mặt trời sáng rực, đang phát chiếu những tia sáng. Tôi vẫn không biết Đấng đó là ai, cho đến khi tôi nhận ra chiếc mão bằng gai. Những gai nhọn đâm vào thái dương, đầu Ngài, và những giọt máu đang chảy dài xuống. Lúc bấy giờ tôi nhận biết Ngài là Đức Chúa Giê-Xu Christ. Tình yêu của Ngài tràn ngập tâm hồn tôi.

Trước kia những vị thần của tôi là những thần của sợ hãi và tai ương. Tôi thường đến đền thờ của những vị thần này để xin khỏi bị trừng phạt. Nhưng Đức Chúa Giê-Xu thì lại khác hẳn. Tôi cảm nhận tình yêu của Ngài và tất cả sợ hãi đều tan biến.

Một niềm hân hoan tuyệt vời phát xuất từ đáy lòng của tôi. Môi và lưỡi tôi bắt đầu nói. Tôi thở ngắn lại và dường như có một Đấng đang điều khiển và bắt phục môi lưỡi tôi. Tôi không biết điều đó là gì, nhưng tôi nhận thật rằng tôi càng nói, càng cảm thấy thoải mái hơn. Cho nên tôi cứ nói và tiếp tục nói.

Khi tôi ý thức ngó lại sự vật chung quanh, Đức Chúa Giê-Xu đã biến dạng, nhưng sự vinh hiển vẫn còn tràn vào tâm hồn tôi. Tôi quên hẳn sự đau nhức trong tim, trong phổi tôi và chạy đến cơ sở truyền giáo. Tôi bảo Mục Sư Richard rằng tôi đã thấy Đức Chúa Giê-Xu và đã nói một thứ tiếng lạ. Ông mở Kinh Thánh đoạn 2 của sách Công vụ các sứ đồ và giải thích cho tôi biết: tôi đã được báp têm trong Đức Thánh Linh như các môn đồ đầu tiên. Chúng tôi khóc lên vì vui sướng.

Sự từng trải mới mẽ này khiến tôi muốn làm chứng về Chúa. Tôi đi ra ngoài đường phố và nói về Đức Chúa Giê-Xu với mọi người đang khi sức khoẻ tôi khả quan hơn. Tôi đã đi từ nhà này sang nhà khác.

Một hôm tôi nhận thức rằng tôi không còn đau đớn trong tim và cũng không còn khó thở nữa. Tôi đi đến bịnh viện, sau khi khám nghiệm và chiếu quang tuyến X, y sĩ bảo tôi buồng phổi của tôi rất tốt, không còn vết tích bịnh lao. Tim của tôi cũng bình thường.

Được sự khuyến khích của các giáo sĩ giáo hội Phúc Âm Ngũ Tuần, tôi ghi danh học thần đạo ở Hán Thành. Thường thì tôi không có tiền. Vào những lúc thời tiết lạnh thì các giáo sĩ cho tôi mượn áo choàng để tôi không bị lạnh. Nhưng tôi có Đức Chúa Trời, có Kinh Thánh và có sự bình an.

Sau đó, tôi bắt đầu rao giảng đạo Chúa trong một căn lều vải rách rưới, trên một khu đất bỏ hoang. Một nhóm tín hữu nghèo khổ nhóm họp tại đó. Tôi kể cho họ những điều mà Đức Chúa Giê-Xu đã làm cho tôi, và bảo rằng Ngài sẽ làm những điều đó cho họ. Chẳng bao lâu căn lều đầy người và họ phải đứng ở bên ngoài.

Chúng tôi cần có một chỗ để thờ phượng Chúa lâu dài vì sự phát triển của Hội Thánh, và chúng tôi đã mua được một cơ sở trung tâm ở Hán Thành. Cuộc phấn hưng tiếp tục. Chẳng bao lâu hàng trăm giáo hữu nhóm chật thánh đường. Chúng tôi phải nới rộng phòng họp và phải tổ chức hai thánh lễ mỗi buổi sáng Chúa Nhật, rồi ba lễ, bốn lễ. Ngôi thánh đường mới của chúng tôi có 10.000 chỗ ngồi đã được hoàn tất. Trong năm vừa qua có 1.000 tín hữu mới thêm vào Hội Thánh.

Hội Thánh chúng tôi tăng trưởng bởi vì chúng tôi giảng về Đức Chúa Jesus Christ hôm qua, ngày nay và cho đến đời đời không hề thay đổi. Ngài tiếp nhận tôi khi tôi sắp chết, cứu tôi, chữa lành cho tôi và báp têm trong Đức Thánh Linh cho tôi. Đó là những điều mà nhân loại hiện đang khao khát. Triết lý và tôn giáo không đáp ứng được nhu cầu của nhân loại. Thế giới cần sự hiện diện của Đức Chúa Jesus Christ.

Tiến sỉ Cho Yonggi

Bạn thân mến,

Sau khi đọc xong quyển sách nhỏ nầy nếu bạn muốn vâng phục Đức Chúa Giê-Xu Christ, tin nhận Ngài làm Cứu Chúa cho cá nhân mình, bạn hãy quỳ xuống hướng lòng về Chúa mà cầu nguyện:

"Lạy Đức Chúa Trời, con vốn là tội nhân đáng phải bị đoán phạt trong hỏa ngục, nhưng Ngài đã thương yêu con, ban Con Một của Ngài là Đức Chúa Giê-Xu Christ giáng thế để đền tội cho con. Giờ đây con ăn năn tội của con, xin Ngài tha thứ con và tiếp nhận con làm con cái của Ngài. Cầu xin Đức Chúa Thánh Linh dẫn dắt con vào mọi lẽ thật của Chúa và tái tạo con trở nên người mới để con có sự dạn dĩ mà làm chứng cho Ngài. Con thành tâm cầu nguyện nhơn danh Đức Chúa Giê-Xu Christ. Amen!

Bài làm chứng của Mục Sư tiến sĩ Cho Yonggi, dịch từ quyển "Khi Phật không trả lời" từ Anh Ngữ ra Việt Ngữ.

Đây là câu chuyện thật, tác giả là con trai trong một gia đình sùng kính Phật giáo. Ông bị bịnh lao phổi xuất huyết sắp chết, được Đức Chúa Giê-Xu chữa lành và trở thành một nhà truyền giáo nổi danh trên thế giới, về những công việc quyền năng mà Chúa đã làm, qua đời sống chức vụ của ông. Ông hiện là Hội Trưởng giáo hội Phúc Âm Ngũ Tuần (Assemblies of God) Đại Hàn, và đang chủ tọa một Hội Thánh lớn nhất thế giới, có 700.000 giáo hữu dự thánh lễ mỗi Chúa Nhật tại Hán Thành.

Cuộc phấn hưng vĩ đại nhất trong lịch sử Cơ đốc giáo từ trước đến nay, đang khiến các giáo phái khắp thế giới chú ý, được phát sinh từ Hội Thánh của tác giả.

Đọc thêm!

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2009

Đoàn mục sư Giám Lý Hoa Kỳ thăm gia đình mục sư Dung


Phần tóm tắt hay đầu bài đăng

Phần còn lại

Đọc thêm!

Liên hệ

Your Name :
Your Email :
Subject :
Message :
Image (case-sensitive):